Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẾN LỨC

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 04-02/2025

V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thiên Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thành Dững
  2. Bà Đặng Thị Bích Loan

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Ngày 04 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 444/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2024; giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ngọc V, sinh năm 1985;
  2. Địa chỉ: Ấp D, xã B, huyện B, tỉnh Long An.

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Thành N, sinh năm 1986;
  4. Địa chỉ: Ấp D, xã B, huyện B, tỉnh Long An.

(Bà V có đơn xin vắng mặt, ông N vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 18/11/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Thành N xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Long An vào ngày 02/6/2008. Cuộc sống chung của vợ chồng không hạnh phúc, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, cuộc sống chung không thể tiếp tục được nên bà yêu cầu ly hôn với ông N.

Về con chung: Bà và ông N có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Lê Thành Â, sinh ngày 29/4/2009 và Nguyễn Lê Ngọc N1, sinh ngày 19/3/2017. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi hai con chung, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà và ông N không có nợ chung.

Bị đơn ông Nguyễn Thành N đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không lý do và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Cháu Nguyễn Lê Thành  và cháu Nguyễn Lê Ngọc N1 có ý kiến trong trường hợp cha mẹ không còn chung sống với nhau thì có nguyện vọng được sống với mẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Bà Lê Thị Ngọc V khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thành N. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

[1.2] Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc V có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Thành N đã được Tòa án thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia vụ án nhưng đều vắng mặt. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu ly hôn của bà V, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Ngọc V và ông Nguyễn Thành N xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian chung sống thì hai bên phát sinh mâu thuẫn. Nay bà V xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn với ông N. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bà V có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, riêng ông N vắng mặt và không gửi cho Tòa án văn bản nêu ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của bà V. Từ đó, cho thấy ông N cũng không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà V và ông N đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà V.

[2.2] Về con chung: Bà V và ông N có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Lê Thành Â, sinh ngày 29/4/2009 và Nguyễn Lê Ngọc N1, sinh ngày 19/3/2017. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi hai con chung. Ông N vắng mặt và không có văn bản nêu ý kiến về vấn đề này. Xét thấy, nguyện vọng của cháu  và cháu N1 là muốn được sống với mẹ. Do đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, giao cháu  và cháu N1 cho bà V nuôi dưỡng là phù hợp.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà V không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà V không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và xác định giữa bà và ông N Không có nợ chung. Ông N vắng mặt và không có văn bản nêu ý kiến về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Bà Lê Thị Ngọc V phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228 và Khoản 3 Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ngọc V về việc "Ly hôn" với ông Nguyễn Thành N.

  1. Về quan hệ hôn nhân:
  2. Bà Lê Thị Ngọc V được ly hôn với ông Nguyễn Thành N.

  3. Về con chung:
  4. Bà Lê Thị Ngọc V và ông Nguyễn Thành N có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Lê Thành Â, sinh ngày 29/4/2009 và Nguyễn Lê Ngọc N1, sinh ngày 19/3/2017. Sau khi ly hôn, bà V được quyền nuôi cháu  và cháu N1. Ông N không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Ông Nguyễn Thành N được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Trường hợp có yêu cầu của một bên, cả hai bên hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

    Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  5. Về án phí:
  6. Bà Lê Thị Ngọc V phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007175 ngày 27 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Bến Lức.
  • - UBND xã Bình Đức, huyện Bến Lức.
  • - Các đương sự.
  • - Lưu HS, lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Thiên Trang

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành D – Đặng Thị Bích Loan Cao Thiên T

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 04/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN về ly hôn

  • Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Ngọc V "Ly hôn" Nguyễn Thành N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger