|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 11/2025/HS-ST Ngày 24 tháng 01 năm 2025 |
1 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Thanh Ngọc Cảnh và ông Lê Văn Đà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Ông Dương Ngọc Sử - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 108/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:
Trần Văn B, sinh ngày 10/6/1979. Nơi cư trú: ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn V (đã chết) và bà Nguyễn Thị K (đã chết); bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 09/8/2024 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Lê Văn V1, sinh ngày 01/01/1969. Nơi cư trú: ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Hoàng M, sinh ngày 01/01/1975. Nơi cư trú: ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. (có mặt)
Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Tấn L;
- Ông Nguyễn Tấn L1;
- Bà Lê Thị N;
- Bà Nguyễn Thị Bích H.
(Anh Nguyễn Tấn L vắng mặt; ông Nguyễn Tấn L1, bà Lê Thị N, bà Nguyễn Thị Bích H có mặt)
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Khoảng tháng 06/2023, Trần Văn B thường xuyên đến quán cà phê của Nguyễn Thị Bích H uống nước, thì phát sinh tình cảm yêu đơn phương H, đến khi B nhìn thấy Lê Văn V1 là người thường hay đến quán uống nước có lời lẽ trêu ghẹo H nên Bụng bực tức. Đến khoảng 20 giờ ngày 06/6/2024, trong lúc uống rượu tại nhà Bụng ở ấp S, xã V, huyện T, thấy V1 đi bộ ngang nên B nói “Tôi xem anh như người anh mà anh chơi xấu, chơi đểu tôi”, nhưng V1 không trả lời mà đi đến nhà của Nguyễn Tấn L1 uống rượu cùng L1 và Phan Văn Ú, đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Ú nghỉ uống đi về nhà của Nguyễn Thị Thu N1, còn lại V1, L1 uống tiếp. Lúc này, B nhớ lại việc V1 trêu ghẹo H nên đi vào trong nhà lấy 01 lưỡi hái cất giấu vào lưng quần ở phía sau rồi đi bộ về hướng nhà của L1 tìm Vũ chém. Trên đường đi, B tiếp tục nhặt 02 viên gạch ống kích thước (17 x 07 x 07)cm đứng chửi L1 thô tục nên Nguyễn Tấn L con của L1 đi ra phía sau lưng B giật lấy lưỡi hái, còn L1 giật lấy 02 viện gạch làm rớt 01 viên gạch bên tay phải xuống đất. Cùng lúc này, V1 đi từ dưới sàn nhà của L1 lên khi còn cách khoảng 06m, thì tay trái Bụng đang cầm viên gạch ném thẳng về trước trúng vào vùng đầu V1, làm V1 té ngã bất tỉnh, B bỏ đi về nhà. V1 được người dân đưa đến trước nhà của Nguyễn Tấn T, cho Lê Minh H1, Lê Thị N (anh chị ruột của V1) biết đưa V1 đến Bệnh viện Đ cấp cứu, sau đó chuyển đến Bệnh viện C, Thành phố Hồ Chí Minh điều trị, đến ngày 17/6/2024, ra viện.
Ngày 05/8/2024, B bị khởi tố điều tra.
Vật chứng và tài liệu đồ vật thu giữ: 01 viên gạch ống, màu đỏ, kích thước (17 x 07 x 07)cm, bị bể 01 góc cạnh; 01 lưỡi hái, dài 24 cm, có cán bằng gỗ dài 11cm, lưỡi bằng kim loại màu đen.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 492/24/KLTTCT-TTPY ngày 19/7/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với Lê Văn V1, ghi nhận: Các kết quả chính: Sẹo vùng vành tai phải đến thái dương phải, kích thước (2.5 x 0.3)cm, sẹo phẳng, màu hồng, bờ không sắc, gây vết thương sọ não, điều trị nội khoa: Vỡ sụp sọ thái dương phải; Vỡ xương đá phải; Dập não xuất huyết thùy thái dương phải; Tụ dịch khí bào xoang chũm, tai giữa và tai ngoài phải: hiện tại tai phải nghe kém nặng.
Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên của Lê Văn V1 tại thời điểm giám định là 45%. Kết luận khác: Cơ chế hình thành thương tích do vật tày có cạnh gây nên.
Tại Cáo trạng số 113/CT-VKSTS ngày 26/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Trần Văn B về tội
3
“Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại Cơ quan điều tra bị cáo Trần Văn B đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn B vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người làm chứng Nguyễn Tấn L1, Lê Thị N, Nguyễn Thị Bích H, bị hại Lê Văn V1, người liên quan Lê Hoàng M trình bày như nội dung vụ án đã nêu. Bị hại Lê Văn V1 yêu cầu bồi thường chi phí điều trị, tiền công lao động là 24.000.000 đồng; Lê Hoàng M không yêu cầu B trả tiền công lao động, chi phí nuôi bệnh cho ông V1.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Văn B mức án từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 590 công nhận sự tự nguyện của bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng không có giá trị sử dụng.
Bị cáo Trần Văn B nhất trí với bản luận tội nêu trên của đại diện Viện kiểm sát, đồng thời không bào chữa bổ sung gì khác. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa người làm chứng vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy sau khi vụ án xảy ra người làm chứng đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước Tòa. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
4
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan và người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra cùng các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng quy định pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận:
Ngày 06/6/2024, vì duyên cớ nhỏ nhặt, bực tức ghen tuông mà Trần Văn B đã dùng viên gạch ống là hung khí nguy hiểm ném vào người Lê Văn V1 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 45% và Lê Văn V1 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
Con người là vốn quý của xã hội, tính mạng, sức khoẻ của con người được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận và được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến sức khoẻ của người khác mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự và an toàn xã hội tại địa phương.
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác. Đồng thời, công cụ mà bị cáo B sử dụng gây thương tích cho bị hại V1 là loại hung khí nguy hiểm được pháp luật ghi nhận.
Từ các phân tích trên, đủ căn cứ kết luận bị cáo B đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho V1 với tỷ lệ thương tật là 45%. Hành vi của bị cáo thể hiện tính côn đồ, hung hãn, bất chấp pháp luật mà thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn truy tố bị cáo Trần Văn B về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị cáo Trần Văn B xuất thân từ thành phần lao động, trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Nhưng hành vi được thực hiện với lỗi cố ý, mặc dù giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn gì với nhau, thể hiện tính côn đồ hung hãn đối với bị hại.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
5
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo xuất thân thành phần lao động, học vấn thấp nên nhận thức pháp luật hạn chế. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, hậu quả gây tổn thương cơ thể bị hại là 45%, thể hiện bản chất côn đồ, xem thường pháp luật nên việc áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội là cần thiết, do vậy cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường thiệt hại về chi phí điều trị thương tích cho bị hại Lê Văn V1 với số tiền là 24.000.000 đồng.
[5] Đối với tiền công lao động, chi phí nuôi bệnh cho V1, Lê Hoàng M không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 viên gạch ống, màu đỏ, kích thước (17 x 07 x 07) mm (bị bể 01 góc cạnh); 01 lưỡi hái, dài 24 cm, có cán bằng gỗ dài 11cm, lưỡi bằng kim loại màu đen.
[7] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Trần Văn B 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09-8-2024.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, Điều 585 và Điều 590 Bộ luật Dân sự:
Buộc bị cáo Trần Văn B có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Lê Văn V1 số tiền 24.000.000 đồng (hai mươi bốn triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
6
Tịch thu tiêu hủy 01 viên gạch ống, màu đỏ, kích thước (17 x 07 x 07) mm, (bị bể 01 góc cạnh); 01 lưỡi hái, dài 24 cm, có cán bằng gỗ dài 11cm, lưỡi bằng kim loại màu đen.
(Đặc điểm theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an huyện T với Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn).
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Văn B phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.200.000đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng) án phí dân sự trong hình sự.
Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Vân |
Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 11/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên xử 7 năm từ về tội cố ý gây thương tích
