Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DẦU TIẾNG

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/DS-ST

Ngày: 22-01-2025

V/v tranh chấp tiền hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Trần Ngọc Tường Vi;
  • 2. Ông Trương Hữu Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Oanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Yến – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 558/2024/TLST- DS ngày 16 tháng 10 năm 2024về việc “Tranh chấp tiền hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 216/2024/QĐXXST-DS ngày 12/12/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bé T, sinh năm 1975; hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương.
  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1987 và ông Đoàn Duy C, sinh năm 1983; hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn có mặt. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 13/8/2024, quá trình tố tụng giải quyết vụ án, nguyên đơn bà T trình bày:

Bà T, bà D và ông C có mối quen hệ quen biết. Bà D, ông C là chủ hụi còn bà T là hụi viên, vì tin tưởng nên bà T đã đóng tiền hụi cho bà D, ông C các dây hụi khác nhau từ tháng 3/2023 đến tháng 7/2024 với tổng số tiền gốc là 144.000.000 đồng. Ngày 15/7/2024, bà T và bà D đã lập giấy chốt hụi trong đó thể hiện bà D còn nợ bà T 140.000.000 đồng (trong đó bà T cho bà D 4.000.000 đồng, chỉ yêu cầu thanh toán 140.000.000 đồng). Giấy nợ hụi có bà D và ông C có ký tên. Hiện nay, số tiền trên đã quá hạn thanh toán nên bà T khởi kiện yêu cầu bà D và ông C trả 140.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, bà T chỉ yêu cầu bà D thanh toán 140.000.000 đồng vì giấy nợ hụi chỉ thể hiện bà D nợ tiền còn ông C không liên quan. Khi thu tiền và đóng hụi thì bà D là người đứng ra thu, giữ, ghi chép giấy tờ.

Chứng cứ nguyên đơn cung cấp: Đơn khởi kiện ngày 13/8/2024; Bản tự khai ngày 13/8/2024, giấy cam kết trả nợ tiền hụi; đơn yêu cầu tòa án hỗ trợ gửi tài liệu chứng cứ.

* Ý kiến của bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ D và ông Đoàn Duy C:

Trong quá trình tố tụng để giải quyết vụ án, bị đơn còn đang sinh sống, thường trú tại địa phương. Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng và các tài liệu, chứng cứ theo quy định pháp luật để báo cho bà D và ông C biết và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình nhưng bà D và ông C vắng mặt không có lý do.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng có ý kiến:

Quá trình tố tụng cũng như diễn biến tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ, công khai chứng cứ, hòa giải, xét xử đúng trình tự, thủ tục tố tụng. Tại phiên tòa, nguyên đơn có mặt. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Do đó, căn cứ quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử cho phiên tòa được tiếp tục để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Quan hệ pháp luật tranh chấp “Tranh chấp tiền hụi”. Về thủ tục tố tụng, không kiến nghị bổ sung hay đề nghị khắc phục. Về nội dung vụ án, căn cứ vào giấy cam kết trả tiền hụi có thể hiện bà D nợ bà T 140.000.000 đồng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà T, buộc bà D phải thanh toán số tiền 140.000.000 đồng cho bà T. Đối với việc bà T rút yêu cầu khởi kiện với ông C là tự nguyện nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Từ những tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ. Sau khi nghe lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định,

[1] Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, nguyên đơn có mặt, bị đơn bà D và ông C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng để bị đơn thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia giải quyết vụ án. Việc bị đơn vắng mặt tại phiên tòa là cố tình nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Bị đơn bà D và ông C có hộ khẩu thường tại ấp C, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng và quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp tiền hụi” theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà T yêu cầu bà D thanh toán 140.000.000 đồng. Xem xét chứng cứ nguyên đơn cung cấp thấy rằng: Bà T đã đóng các dây hụi cho bà D với tổng số tiền 144.000.000 đồng. Sau khi bà D tuyên bố vỡ hụi, các bên đã đối chiếu hụi, thống nhất tổng số tiền bà D phải trả là 140.000.000 đồng theo Giấy cam kết trả nợ có bà D, ông C ký tên xác nhận. Nội dung giấy hụi như sau “Tôi tên Nguyễn Thị Mỹ D thường trú tại ấp C, xã M, D, Bình Dương, tôi có thiếu chị D1 (Bé T) số tiền hụi 140.000.000 đồng (một trăm bốn chục triệu đồng chẵn)”. Bà T đã nhiều lần yêu cầu nhưng bà D chưa thanh toán là vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận giữa các bên.

[4] Quá trình thực hiện tố tụng giải quyết vụ án, bị đơn bà D được Tòa án triệu tập, niêm yết hợp lệ nhưng cố tình vắng mặt không tham gia các buổi làm việc, buổi mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải, xét xử để có ý kiến về số nợ của nguyên đơn yêu cầu. Điều này thể hiện bà D cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ nên yêu cầu khởi kiện của bà T được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Quá trình giải quyết vụ án, bà T rút yêu cầu khởi kiện đối với ông C, chỉ yêu cầu bà D thanh toán. Đây là sự tự nguyện của nguyên đơn, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng có ý kiến về phần các thủ tục tố tụng, diễn biến tại phiên tòa và nội dung giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: Bà D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 92, 147, 227, 228, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ các Điều 357, 468, 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp tiền hụi của bà Nguyễn Thị Bé T đối với bà Nguyễn Thị Mỹ D.

1.1 Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ D có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị B Tư số tiền 140.000.000 đồng (một trăm bốn mươi triệu đồng).

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thanh toán số tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

1.2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bé T đối với ông Đoàn Duy C về việc yêu cầu ông C liên đới cùng bà D thanh toán số tiền 140.000.000 đồng (một trăm bốn mươi triệu đồng).

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

2.1. Bà Nguyễn Thị Mỹ D phải chịu số tiền 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng).

2.2. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Bé T số tiền 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000581 ngày 09/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

3. Quyền kháng cáo:

3.1. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

3.2. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND huyện Dầu Tiếng;
  • - CC THA DS huyện Dầu Tiếng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tuấn Nam

5

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lệ Mỹ Nguyễn Thị Kim Phi

Nguyễn Tuấn Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/DS-ST ngày 22/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp tiền hụi

  • Số bản án: 11/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tiền hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/01/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger