TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 11 /2025/HSST Ngày: 22/01/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Chín;
Ông Phạm Thành Đô.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng .
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Ông Lê Hồng Toản - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 03/2025/HSST ngày 03 tháng 01 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/ QĐXXST – HS ngày 03 tháng 01 năm 2025, đối với các bị cáo:
Đặng Trung H, sinh năm 1986, tại tỉnh Vĩnh Long.
Căn cước công dân số [...].
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.
Nơi cư trú: Thôn H, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Hoàng T và bà Lê Thị Năm N; tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 28/11/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 01 năm 06 tháng tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 56/HSST (đã đóng án phí và chấp hành xong Bản án) .
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/8/2024 cho đến nay, (có mặt).
Lê Xuân H1 (tên gọi khác: L), sinh năm 1992, tại tỉnh Bình Phước.
Căn cước công dân số [...]
Nơi cư trú: Thôn B, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân H2 và bà Nguyễn Thị T1; tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 29/9/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng. (đã chấp hành xong).
Ngày 20/3/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng (đã chấp hành xong).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/8/2024 cho đến nay, (có mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Nguyễn Phúc G, sinh năm: 1989, (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Hiện đang cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm C1
- Người làm chứng:
Lý Gia H3, sinh năm: 2001, (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Điểu H4, sinh năm: 2004, (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 08/8/2024, Đặng Trung H đang ở nhà trọ do chị Hồ Thị Mộng T2 và Nguyễn Phúc G thuê tại thôn H, xã Đ huyện B, tỉnh Bình Phước thì được Lê Xuân H1 dùng mạng xã hội “Zalo” có tên “Lợm” nhắn vào mạng xã hội “Zalo” của Đặng Trung H với tên “Miền vui” hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá thì được H nhắn tin lại đồng ý (và xóa tin nhắn). Đến 15 giờ 40 phút cùng ngày Lê Xuân H1 điều xe mô tô (không biển kiểm soát) đi đến trước nhà trọ H, H lấy từ trong hộp nhựa màu trắng một đoạn ống hút nhựa (loại ống hút dùng để uống nước) màu trắng - vàng hàn kín hai đầu bên trong có chứa ma túy đá và mang ra đưa cho H1, khi H đưa ma túy cho H1 thì H1 nói “tiền đã chuyển khoản cho chị T2 rồi” và H đi vào nhà. H1 cầm đoạn ống hút bên trong có chứa ma túy đá bỏ vào mũ lưỡi trai đang đội trên đầu rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà thuộc thôn B, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước, khi H1 đi được khoảng 300 mét thì bị lực lượng Công an huyện B phối hợp với Công an xã Đ dừng xe để kiểm tra, quá trình kiểm tra phát hiện trong mũ lưỡi trai của H1 có 01 đoạn ống hút bên trong có chứa nghi là ma túy. Lúc này, H1 khai nhận ống nhựa bên trong có chứa ma túy H1 mới mua của H với giá 200.000 đồng. Lúc này, tổ công tác ập vào nhà trọ H thì H đã dùng tay ném 01 lọ nhựa màu trắng, 01 hộp giấy (loại hộp giấy đựng bóng đèn) ra bên hông nhà, rồi bỏ chạy ra sau nhà thì bị lực lượng Công an bắt giữ. Quá trình kiểm tra phát hiện trong lọ nhựa màu trắng có 03 đoạn ống hút nhựa màu trắng - đỏ, 04 đoạn ống hút nhựa màu trắng - vàng tất cả đều được hàn kín hai đầu bên trong có chứa ma túy đá và bên trong 01 hộp giấy (loại hộp đựng bóng đèn) có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy. H khai nhận chất màu trắng có trong 07 đoạn ống hút nhựa là ma túy đá H mua của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lý lịch) ở khu vực rẫy thuộc thôn H, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước với giá 2.000.000 đồng mua về cất giấu nhằm mục đích bán cho các con nghiện, và sử dụng cá nhân. Lúc này, lực lượng Công an áp giải H1 đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang,
niêm phong tang vật (ký hiệu M1 có chữ ký của H1, M2 có chữ ký của H) để điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra Đặng Trung H khai nhận ngoài lần bán ma túy cho Lê Xuân H1 bị bắt quả tang ra H còn bán cho H1 02 lần khác vào ngày 04/8/2024 và ngày 06/8/2024 mỗi lần với giá là 200.000 đồng, bán cho Lý Gia H3 02 lần vào ngày 02/8/2024 và ngày 06/8/2024 mỗi lần với giá là 200.000 đồng và bán cho Điểu H4 02 lần mỗi lần với giá 200.000 đồng không nhớ rõ ngày bán ma túy cho H4 tất cả các lần trên H đã nhận tiền.
Tại Kết luận giám định số 865/KL-KTHS ngày 15/8/2024 của Phòng K công an tỉnh B, kết luận.
Tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng là 0,1872 gam.
Tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng là 0,9465 gam.
- Về vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B đã chuyển 01 (một) bì thư đã được niêm phong đựng mẫu hoàn lại sau giám định số 865/2024 ngày 09/8/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 (một) ĐTDĐ nhãn hiệu Huawei đã qua sử dụng bị bể màn hình; 01 (một) ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone màu xám bị bể màn hình; 01 bộ dụng cụ sử dụng sử dụng chất ma túy là vật chứng của vụ án đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng để phục vụ công tác truy tố, xét xử.
- 01 (một) xe mô tô không biển số, không kiểm tra máy bên trong, xe đã qua sử dụng là phương tiện mà Lê Xuân H1 sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, quá trình điều tra bị can H1 không chứng minh được nguồn gốc của chiếc xe mô tô. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B ra Quyết định trưng cầu giám định số 1624/QĐ- ĐCSMT, ngày 04/12/2024 hiện chưa Kết luận giám định của Phòng K - Công an tỉnh B và đã ra thông báo truy tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có kết quả. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tách ra tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật khi có kết quả.
Tại Cáo trạng số 08/CT –VKS.BĐ ngày 02/01/2025, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Đặng Trung H về Tội mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Lê Xuân H1 về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát khẳng định nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố. Về tội danh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đặng Trung H phạm Tội mua bán trái phép chất ma túy. Đề nghị tuyên bố bị cáp Lê Xuân H1 phạm Tội tàng trữ phép chất ma túy.
Về hình phạt, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Trung H từ 07 đến 08 năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Xuân H1 từ 12 đến 18 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng
Bị cáo Đặng Trung H và Lê Xuân H1 thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 08/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B phối hợp cùng Công an xã Đ kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Lê Xuân H1 đang tàng trữ 0,1872 gam ma tuý, loại Methanphetamine mà H1 vừa mua của Đặng Trung H tại thôn H, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước để sử dụng. Tiến hành kiểm tra, phát hiện Đặng Trung H đang cất giấu 0,9465 gam ma tuý, loại Methanphetamine nhằm mục đích để bán cho các con nghiện tại thôn H, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Ngoài ra, H còn bán ma túy cho H1 02 lần khác vào ngày 04/8/2024 và ngày 06/8/2024 mỗi lần với giá 200.000 đồng, bán cho Lý Gia H3 02 lần vào ngày 02/8/2024 và ngày 06/8/2024 mỗi lần với giá 200.000 đồng và bán cho Điểu H4 02 lần mỗi lần với giá 200.000 đồng (không nhớ rõ ngày bán ma túy cho H4), tất cả các lần trên H đã nhận tiền.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm và hành vi phạm tội.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Đặng Trung H đã phạm Tội mua bán trái phép chất ma túy; hành vi của bị cáo Lê Xuân H1 đã phạm vào Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine có, C, M khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Như vậy, nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo nhận thức được mọi hành vi liên quan đến ma túy là vi phạm pháp luật là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Tuy nhiên, do muốn có tiền sử dụng ma túy bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Ngoài ra, hành vi của các bị cáo còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương.
Đối với bị cáo Đặng Trung H đã từng có 01 tiền án về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Mặc dù, đã được xóa án tích nhưng vẫn bị coi là có nhân thân không tốt.
Đối với bị cáo Lê Xuân H1 đã có 02 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuy, đã bị xử phạt hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, bị cáo không lấy đó làm bài học mà còn tiếp tục mua ma túy về sử dụng. Thể hiện tính coi thường pháp luật của bị cáo.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Hai bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Đặng Trung H và Lê Xuân H1 đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, hai bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xét toàn bộ tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy cần xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Cần tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư đã được niêm phong đựng mẫu hoàn lại sau giám định số 865/2024 ngày 09/8/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B;
Cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) ĐTDĐ nhãn hiệu Huawei đã qua sử dụng bị bể màn hình; 01 (một) ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone màu xám bị bể màn hình;
Cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng là tiền H1 đã chuyển vào tài khoản S của G để mua ma túy từ H.
Cần tịch thu tiêu hủy: 01 bộ dụng cụ sử dụng sử dụng chất ma túy.
Đối với 01 (một) xe mô tô không biển số, không kiểm tra máy bên trong, xe đã qua sử dụng là phương tiện mà Lê Xuân H1 sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, quá trình điều tra bị can H1 không chứng minh được nguồn gốc của chiếc xe mô tô. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B ra Quyết định trưng cầu giám định số 1624/QĐ- ĐCSMT, ngày 04/12/2024 hiện chưa Kết luận giám định của Phòng K - Công an tỉnh B và đã ra thông báo truy tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có kết quả. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tách ra tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật khi có kết quả. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Buộc Đặng Trung H phải nộp lại số tiền 1.200.000 đồng tiền thu lợi bất chính từ việc bán ma túy.
[6] Về hình phạt bổ sung: Do hai bị cáo là người nghiện ma túy không có thu nhập ổn định nên miễn chấp hành hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[7] Về án phí: Buộc hai bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Đối với người đàn ông đàn ông bán ma túy cho H, không xác định được nhân thân, lý lịch; không có tài liệu chứng cứ khác; không có căn cứ xử lý. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện B không đề nghị, nên Viện kiểm sát không đề cập.
- Đối với Hồ Thị Mộng T2 trong quá trình điều tra xác định T2 không dùng tài khoản zalo, không biết việc Đặng Trung H bán ma túy tại nhà trọ của T2 thuê ở, không liên quan đến hành vi phạm tội của H. Tuy nhiên tại biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 08/8/2024 xác định T2 dương tính với chất ma túy Methamphetamine, qua xác minh cơ quan Công an huyện Bù Đăng xác định T2 không có nơi cư trú ổn định nên căn cứ vào nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy đưa vào Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Phước theo quyết định số 81/QĐ-TA ngày 19/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng .
- Đối với Nguyễn Phúc G trong quá trình điều tra xác định G không biết việc Đặng Trung H sử dụng số tài khoản ngân hàng S1 của G để nhận tiền bán ma túy có được, G không liên quan đến hành vi phạm tội của H. Tuy nhiên, tại biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 08/8/2024 xác định G dương tính với chất ma túy Methamphetamine, qua xác minh cơ quan Công an huyện Bù Đăng xác định G không có nơi cư trú ổn định nên căn cứ vào nghị định số 116/2021/NĐ- CP ngày 21/12/2021 quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy đưa vào Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Phước theo quyết định số 82/QĐ-TA ngày 19/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng .
- Đối với Lý Gia H3 và Điểu H4 là người trực tiếp mua ma túy, loại Methamphetamine của Đặng Trung H để sử dụng cho nhu cầu bản thân và biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 08/8/2024 xác định H3 và Hải dương tính với chất ma túy Methamphetamine nên Cơ quan Cảnh sat điều tra - Công an huyện B đã lập hồ sơ bàn giao cho Công an xã N và Công an xã N nơi H3 và H4 cư trú để xử lý theo thẩm quyền quy định.
Đối với quan điểm xử lý vụ án của Đại diện Viện kiển sát phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Đặng Trung H phạm Tội mua bán trái phép chất ma túy; bị cáo Lê Xuân H1 phạm vào Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đặng Trung H 08 năm tù (tám năm, tù) Thời hạn tù tính từ ngày 08/8/2024.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê Xuân H1 01 năm, 06 tháng tù (một năm, sáu tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày 08/8/2024.
[2] Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư đã được niêm phong đựng mẫu hoàn lại sau giám định số 865/2024 ngày 09/8/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B;
Tuyên tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) ĐTDĐ nhãn hiệu Huawei đã qua sử dụng bị bể màn hình; 01 (một) ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone màu xám bị bể màn hình;
Tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng (theo Giấy nộp tiền ngày 21/01/2025)
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 bộ dụng cụ sử dụng sử dụng chất ma túy.
T3 buộc Đặng Trung H phải nộp lại số tiền 1.200.000 đồng tiền thu lợi bất chính từ việc bán ma túy.
(Biên bản giao, nhận vật chứng số 0009946 ngày 07/7/2022 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng với Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện B)
[3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Đăng Trung H5 và Lê Xuân H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Khắc Thanh |
Bản án số 11/2025/HSST ngày 22/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 11/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Trung H Mua bán trái phép chất ma túy Lê Văn H1 Tàng trữ trái phép chất ma túy
