|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 11/2024/HS-ST Ngày: 12-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ninh Thị Khánh Tân
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Cát Tưởng
Ông Nguyễn Đình Vụ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh – Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: ông Lê Khánh T - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Đình T1; sinh năm 1980 tại tỉnh Thanh Hóa; số CCCD: [...]; giới tính: nam; Nơi cư trú: Thôn D, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông: Lê Đình N và bà Phạm Thị C; gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; có vợ là Lê Thị H và 03 con, lớn sinh năm 2001 và nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại. Có mặt.
- Bị hại: Bà Trần Thị T2, sinh năm 1949 (đã chết)
Người đại diện hợp pháp cho bị hại:
- -Ông Nguyễn Thế T3, sinh năm 1974 (có mặt)
- Địa chỉ: Phố T, phường Q, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
- -Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1981 (có mặt)
- Địa chỉ: Phố T, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
- -Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1983 (có mặt)
- Địa chỉ: Tổ E, khu B, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.
- - Bị đơn dân sự: Ông Hoàng Bá H2, sinh năm 1973 (có mặt)
- Địa chỉ: Thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
- - Người làm chứng: Ông Bùi Anh T4, sinh năm 1960 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Phố T, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 15/8/2024, tại KM 331 + 890 Quốc lộ A, đoạn tránh thành phố T, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh hóa xảy ra vụ tai nạn giao thông do Lê Đình T1 điều kiển xe ô tô tải BKS 36H – 017.67 đi theo hướng Bắc – Nam, do trời mưa không chú ý quan sát, không giảm tốc độ đến mức an toàn đã đâm va vào bên trái người đi bộ là bà Trần Thị T2 đang đi bộ qua đường theo hướng Đ - T. Hậu quả bà T2 bị thương được cấp cứu tại bệnh viện Đa khoa tỉnh T, sau đó tử vong, xe ô tô bị hư hỏng.
Sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã chủ trì và phối hợp với các lực lượng chức năng tổ chức khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và phương tiện liên quan. Kết quả khám nghiệm được xác định như sau:
* Khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra tại Km 331 + 890 Quốc lộ A đoạn tránh thành phố T, phường Q, thành phố T. Đây là đoạn đường có dải phân cách cứng, cố định chia đường làm hai chiều phương tiện lưu thông riêng biệt, trên dải phân cách cứng được đặt các cột mốc chỉ lộ giới đường bộ, mặt đường được dải nhựa tương đối bằng phẳng, mỗi chiều có bề rộng 11,00m. Mở rộng hiện trường cách hiện trường nơi xảy ra vụ TNGT về hướng Tây Nam 50m, tại vị trí lề bên phải đường Q đoạn tránh thành phố T hướng Q đi BigC được đặt biển báo hiệu giao thông W.203c (Biển báo đường hẹp bên phải). Thống nhất lấy cột mốc ký hiệu Quốc lộ A Km332 đặt tại đầu mút phía Tây Nam dải phân cách làm điểm mốc (ký hiệu là A), lấy mép phía Đông Nam dải phân cách cố định làm mép chuẩn (ký hiệu là B). Tiến hành khám nghiệm ghi nhận vị trí dấu vết phương tiện, đồ vật liên quan đến vụ TNGT để lại tại hiện trường được đánh số, mô tả như sau:
- Cách (A) về hướng Đông Bắc 107m00, cách (B) về hướng Đông Nam 3m10 là vị trí đầu vết tỳ trượt không liên tục xuất hiện trên mặt đường, kích thước 13m60 x 0m40, vết có chiều T – Đông Bắc, bề mặt vết bám dính chất màu đen dạng cao su, vết này làm mòn xước mặt đường, cuối vết tương ứng vào vị trí hàng lốp sau cùng bên phải xe ô tô gắn BKS 36H – 017.67 đang đỗ trên đường.
- Cách đầu vết (1) về hướng T 1m80, cách (B) về hướng Đông Nam 1m60 là vị trí đầu vết tỳ trượt không liên tục xuất hiện tại mặt đường, kích thước 13m90x0m43, vết có chiều T – Đông Bắc, bề mặt vết bám dính chất màu đen dạng cao su, cuối vết tương ứng vào vị trí hàng lốp sau cùng bên trái xe ô tô gắn BKS: 36H–017.67 đang đỗ trên đường.
- Tương ứng cuối vết (2), cách (B) về hướng Đông Nam 0m70 là hình chiếu tâm trục bánh sau, ngoài cùng bên trái xe ô tô gắn BKS: 36H 017.67 trong tư thế dừng, đỗ trên đường Q đoạn đường tránh TP T, đầu xe quay hướng Đông Bắc, đuôi xe quay hướng T. Cách (B) về hướng Đông Nam 0m50 là vị trí hình chiếu tâm trục bánh trước bên trái.
- Cách vị trí hình chiếu tâm trục bánh sau, ngoài cùng bên phải xe ô tô gắn BKS: 36H – 017.67 về hướng Tây Nam 1m90, chếch (B) về hướng Đông Nam 2m20 là vị trí 01 (một) dép nhựa màu tím dạng dép sục, S nằm trên đường.
- Cách vị trí hình chiếu tâm trục bánh trước bên phải xe ô tô gắn BKS: 36H – 017.67 về hướng Đông Nam 0m50, chếch (B) về hướng Đông Nam 3m10 là vị trí 01 (một) dép nhựa màu tím, dạng dép sục, S nằm trên đường.
- Cách vị trí hình chiếu tâm trục bánh trước bên phải xe ô tô gắn BKS: 36H – 017.67 về hướng Đông 1m60, cách (B) về hướng Đông Nam 3m50 là vị trí đám chất màu nâu đỏ nghi máu trên đường kích thước 0m50 x 0m40 vết có dạng bẹt.
* Phương tiện, dấu vết, tài liệu và mẫu thu được: 01 (một) xe ô tô gắn BKS: 36H-017.67.
* Về kết quả khám nghiệm phương tiện:
Tại Bản kết luận giám định số 3194/KL-KTHS ngày 30/9/2024 của Phòng K - Công an tỉnh T kết luận:
Các vết tỳ trượt, bề mặt bám dính chất màu nâu đỏ (dạng máu) và in các vân (dạng vân vải) tại mặt trước bên phải đầu xe ô tô tải biển số 36H – 017.67 (ảnh 4 đến 15) phù hợp do va chạm với bên trái quần áo và cơ thể nạn nhân Trần Thị T2 tạo nên.
- Không đủ cơ sở xác định điểm va chạm đầu tiên giữa cơ thể nạn nhân Trần Thị T2 với xe ô tô tải biển số 36H – 017.67.
- Vị trí va chạm nằm trên làn đường trong cùng (tiếp giáp dải phân cách) dành cho xe cơ giới của chiều đường theo hướng từ huyện Q đi siêu thị B, tại Km331+890, Quốc lộ A đoạn tránh thành phố T thuộc địa phận phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; không đủ cở sở xác định vị trí cụ thể.
- Không đủ cơ sở xác định vận tốc của xe ô tô tải biển số 36H – 017.67 tại thời điểm va chạm.
* Kết quả khám nghiệm tử thi bà Trần Thị T2:
Tại Bản kết luận giám định số 3251/KLGĐTT-PC09 ngày 05/9/2024 của Phòng K - Công an tỉnh T kết luận, nguyên nhân chết của nạn nhân bà Trần Thị T2: Đa chấn thương.
* Kết quả test ma túy của Lê Đình T1 âm tính với các chất ma túy trong nước tiểu và nồng độ cồn cho kết quả: 0,000mg/L.
Về dân sự: Gia đình Lê Đình T1 đã bồi thường cho đại diện gia đình nạn nhân Trần Thị T2. Đại diện gia đình nạn nhân không yêu cầu gì thêm về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng vụ án xe ô tô BKS 36H – 017.67, quá trình điều tra Cơ quan điều tra xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án nên đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại phương tiện cho chủ sở hữu hợp pháp anh Hoàng Bá H2.
Tại cơ quan điều tra, Lê Đình T1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra.
Cáo trạng số 298/CT-VKS ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Lê Đình Tâm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa,
Bị cáo Lê Đình T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nêu trên, phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Gia đình bị hại xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Lê Đình T1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; đề nghị xử phạt: Bị cáo Lê Đình T1 mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng;
Về phần dân sự: Ghi nhận đã giải quyết xong nên đề nghị không xem xét.
Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 135, Điều 136 BLTTHS Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Lê Đình T1 không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội tiếp tục lao động chăm sóc gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo thống nhất với lời khai của người làm chứng về hành vi đã thực hiện, thời gian, địa điểm và các chứng cứ khác phản ánh tại hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 15/8/2024 tại Km 331 + 890 Quốc Lộ A đoạn tránh thành phố T thuộc phường Q, thành phố T, Lê Đình T1 có giấy phép lái xe ô tô đã điều khiển xe ô tô BKS 36H – 017.67 trong điều kiện có biển cảnh báo nguy hiểm, trời mưa, nhưng đã không chú ý quan sát, không giảm tốc độ đến mức an toàn đã đâm va vào bên trái người bộ hành là bà Trần Thị T2 đang đi bộ qua đường theo hướng Đ - T. Hậu quả làm bà T2 tử vong.
Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Lê Đình T1 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi:
Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự và an toàn giao thông đường bộ cũng như sự an toàn về sức khỏe và tài sản của người khác, nhất là trong tình hình hiện nay, tai nạn giao thông ngày càng gia tăng, trở thành nỗi ám ảnh lo ngại cho mọi người khi tham gia giao thông, chính quyền các cấp đã đang phải áp dụng nhiều biện pháp giảm thiểu các vụ tai nạn giao thông nhưng Lê Đình T1 với ý thức chủ quan, không chấp hành quy định của Luật giao thông đường bộ, đã điều khiển xe ô tô đi trên Quốc Lộ A đoạn tránh thành phố T thuộc địa phận phường Q, thành phố T là đoạn đường có biển cảnh báo nguy hiểm, mặc dù trời mưa, đường trơn nhưng không giảm tốc độ đến mức an toàn, không chú ý quan sát, để xảy ra tai nạn gây tử vong cho bà Trần Thị T2. Do vậy cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi và hậu quả bị cáo gây ra.
[4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo; sau khi sự việc xảy ra, bị cáo cùng chủ phương tiện đã đến động viên và bồi thường cho gia đình bà T2 số tiền 130.000.000đ (một trăm ba mươi triệu đồng), hai bên đã thỏa thuận bồi thường xong về dân sự, đại diện gia đình bị hại có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, tại phiên tòa gia đình bị hại cũng đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất và cho bị cáo được hưởng án treo; bị cáo có bố đẻ là ông Lê Đình N đã được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì khi tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước ta
Bị cáo có thân nhân tốt, nhân thân không tiền án, tiền sự, phạm tội do lỗi vô ý, có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nơi cư trú rõ ràng; ngoài lần phạm tội này, bị cáo không có vi phạm gì khác; có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt đi chấp hành hình phạt tù cũng không ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm chung; Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương, dưới sự giám sát của gia đình và chính quyền nơi cư trú cũng đủ để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Các chi phí do thiệt hại xảy ra chủ phương tiện và bị cáo đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình bị hại và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Xét thấy sự thỏa thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện không trái pháp luật, chấp nhận sự thỏa thuận.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ : điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 47 của Bộ luật hình sự.
Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 332, Điều 333 BLTTHS.
Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Đình T1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Phạt bị cáo Lê Đình T1 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo.
Thời gian thử thách 36 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Đình T1 cho UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về trách nhiệm dân sự: Công nhận phần dân sự đã giải quyết xong.
Về án phí: Buộc bị cáo Lê Đình T1 phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại, bị đơn dân sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ninh Thị Khánh Tân |
Bản án số 11/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 11/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Đình T phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ làm bà Trần Thị T2 tử vong
