Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Bản án số: 11/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 11-12-2024

V/v ly hôn, tranh chấp quyền

nuôi con khi ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Vũ Tiến

Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Trọng Cẩn

Bà Thái Thị Hồng Vân

-Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân

tỉnh Thừa Thiên Huế

-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên

tòa: Ông Võ Văn Bảng – Kiểm sát viên

Ngày 11 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2024/TLPT-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con khi ly hôn”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 105/2024/HNGĐ-ST ngày 16 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Huế bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 202/2024/QĐ-PT ngày 29 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh T, sinh năm 1993. Địa chỉ: P dãy C khu tập thể Xã T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
  2. Bị đơn: Ông Lưu Viết T1, sinh năm 1989. Nơi đăng ký thường trú: Xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; có mặt.
  3. Người kháng cáo: Ông Lưu Viết T1, bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 11/7/2024, lời khai và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Trần Thị Thanh T trình bày:

Bà T và ông Lưu Viết T1 quen biết, tìm hiểu nhau được 02 năm thì tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 24/9/2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau tại nhà bố mẹ bà T ở địa chỉ phòng 10 dãy 3 khu tập thể Xã T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian ngắn, sau đó thường

1

xuyên xảy ra mâu thuẫn với nhau. Nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp, không tìm được tiếng nói chung. Ông T1 không làm tròn trách nhiệm của mình, không quan tâm và vun vén hạnh phúc gia đình. Một mình bà T phải chăm lo việc ăn học cho các con. Có lần ông T1 say xỉn nên đã hành hung, bóp cổ chị T và đập phá đồ đạc trong gia đình. Vợ chồng không chia sẻ với nhau, đời sống tình cảm ngày càng bế tắc. Bà T cho rằng phải chịu đựng, sống chung với ông T1 để nuôi dạy con cái và cũng đã nhiều lần tha thứ để hy vọng ông T1 thay đổi nhưng ông T1 vẫn không biết chăm lo cho gia đình. Hai bên gia đình đã nhiều lần hòa giải nhưng mâu thuẫn vẫn xảy ra. Vợ chồng đã sống ly thân với nhau. Nay bà đề nghị Toà án cho bà được ly hôn với ông T1 để giải thoát và có cơ hội xây dựng lại cuộc sống. Nếu Tòa án không cho ly hôn thì bà cũng không tiếp tục sống với ông T1 được nữa vì bà không còn thương yêu ông T1 nữa.

Tại bản tự khai và biên bản hòa giải, bị đơn ông Lưu Viết T1 trình bày:

Ông T1 xác nhận về việc tìm hiểu, đi đến kết hôn đúng như bà T trình bày. Sau khi kết hôn, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn do công việc không ổn định, ông T1 muốn chuyển về quê làm ăn sinh sống nhưng bà T không đồng ý. Vợ chồng đã sống ly thân và không còn tình cảm với nhau. Ông T1 đồng ý với yêu cầu ly hôn của bà T vì ông T1 xác nhận vợ chồng đã không thể hàn gắn được với nhau.

Về con chung: Bà Trần Thị Thanh T và ông Lưu Viết T1 xác nhận có 02 người con chung là cháu Lưu Trần Minh T2, sinh ngày 24/01/2019 và cháu Lưu Viết P, sinh ngày 20/8/2022. Hiện nay cả hai cháu đang ở với mẹ. Nếu ly hôn, bà T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu T2 và P đến khi trưởng thành và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con. Ông Lưu Viết T1 yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu T2 và P đến khi trưởng thành hoặc ít nhất được nuôi dưỡng một trong hai cháu đến khi trưởng thành. Ông T1 không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị Thanh T và ông Lưu Viết T1 tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bản án dân sự sơ thẩm số 105/2024/HNGĐ-ST ngày 16/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Thanh T được ly hôn với anh Lưu Viết T1.
  2. Về con chung: Chị Trần Thị Thanh T và anh Lưu Viết T1 có hai con chung là cháu Lưu Trần Minh T2, sinh ngày 24/01/2019 và cháu Lưu Viết P, sinh

2

ngày 20/8/2022; giao hai cháu T2 và P cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi hai cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh T1 không cấp dưỡng nuôi con.

Anh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trần Thị Thanh T và anh Lưu Viết T1 tự thỏa thuận nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo, chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Ngày 19/9/2024, bị đơn ông Lưu Viết T1 có đơn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm. Tại Biên bản về việc kháng cáo ngày 07/10/2024, bị đơn ông Lưu Viết T1 trình bày nội dung kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử giao 02 cháu: cháu Lưu Trần Minh T2, sinh ngày 24/01/2019 và cháu Lưu Viết P, sinh ngày 20/8/2022 cho ông Lưu Viết T1 được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành hoặc giao cho ông T1 ít nhất một trong hai cháu Lưu Trần Minh T2 hoặc Lưu Viết P nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Ông T1 không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Trần Thị Thanh T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn ông Lưu Viết T1 giữ nguyên nội dung kháng cáo theo đơn kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế có quan điểm:

-Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, các đương sự chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự, không có vấn đề gì cần phải kiến nghị để khắc phục.

-Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lưu Viết T1, đề nghị giữ nguyên bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Đơn kháng cáo của ông Lưu Viết T1 làm trong thời hạn luật định và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định. Do đó, kháng cáo của bị đơn là hợp lệ. Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận được với nhau, ông Lưu Viết T1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo nên Hội đồng xét xử xét cần tiếp tục xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của ông Lưu Viết T1 về quyền nuôi con khi ly hôn, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Bà Trần Thị Thanh T và ông Lưu Viết T1 có hai con chung là cháu Lưu Trần Minh T2, sinh ngày 24/01/2019 và cháu Lưu Viết P, sinh ngày 20/8/2022. Tòa án

3

cấp sơ thẩm giao cả hai cháu Lưu Trần Minh T2, sinh ngày 24/01/2019 và cháu Lưu Viết P, sinh ngày 20/8/2022 cho mẹ là bà Trần Thị Thanh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Ông T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung, ông T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Ông T1 kháng cáo đề nghị giao cả 2 cháu Lưu Viết P và Lưu Trần Minh T2 cho ông được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành hoặc giao một trong hai cháu T2 hoặc P cho ông T1 nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và ông không yêu cầu bà T cấp dưỡng.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xác minh tại chính quyền địa phương và xem xét Giấy xác nhận của Trường Mầm non T4 ngày 25/7/2024 thể hiện cả hai cháu P và T2 hiện đang theo học tại trường; ý kiến trình bày của bà Lê Thị T3 là mẹ của bà T là phù hợp với biên bản xác minh tại chính quyền địa phương về việc cả hai cháu P và T2 từ khi sinh ra đến nay đều sinh sống tại nhà của chị T và được chị T cùng ông bà ngoại trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy việc nuôi con chung chưa thành niên là quyền và trách nhiệm của bố mẹ, ông T1 và bà T đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung nhưng xét điều kiện thực tế, ông T1 hiện đang làm việc tại tỉnh Nghệ An, cháu Lưu Trần Minh T2 là con gái và hiện đang còn nhỏ, cần sự quan tâm chăm sóc của mẹ nên để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của cháu T2; cháu Lưu Viết P hiện nay đang dưới 36 tháng tuổi; bà T có công việc với mức thu nhập ổn định nên đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả cháu T2 và cháu P. Do vậy, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lưu Viết T1, Tòa án cấp sơ thẩm giao hai con chung là cháu Lưu Trần Minh T2, sinh ngày 24/01/2019 và cháu Lưu Viết P, sinh ngày 20/8/2022; giao hai cháu T2 và P cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi hai cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi) là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn ông Lưu Viết T1 phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự:

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lưu Viết T1;

Tuyên xử:

  1. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 105/2024/HNGĐ-ST ngày 16/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
  2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lưu Viết T1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0004832 ngày 07 tháng 10 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh TT Huế;
  • - TAND thành phố Huế;
  • - Chi cục THADS thành phố Huế;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; Tòa DS; HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Vũ Tiến

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/HNGĐ-PT ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 11/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Trần Thị Thanh T1 yêu cầu ly hôn ông Lưu Viết T2, tranh chấp về quyền nuôi con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger