|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2024/HSST
Ngày: 07/12/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Mạnh Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tẩn A Sếnh; Ông Lê Văn Hà .
Thư ký phiên toà: Ông Phùng Trung Sơn, Thư ký Toà án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Phùng Văn Chử, Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 12 năm 2024, tại xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu. Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai lưu động vụ án hình sự thụ lý số: 01/2024/TLST- HS, ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST –HS, ngày 11 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Cà Văn P – Sinh năm: 1989; Sinh tại: S, tỉnh Lai Châu. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: bản Noong Om, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đoàn, Đảng: không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Cà Văn I - Sinh năm: 1959; Con bà: Lý Thị D – Sinh năm: 1959; Bị cáo có vợ Lò Thị C – Sinh năm: 1992; Bị cáo có 03, con lớn nhất, sinh năm: 2011, con nhỏ nhất sinh năm: 2016. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/6/2024 đến nay - Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lưu Văn Q – Văn phòng L, đoàn Luật sư Thành phố H – Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN;
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 04/6/2024, Cà Văn P đi từ lán nương thuộc bản Noong Hẻo 2, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu, P gặp một người đàn ông khoảng 30 tuổi. Qua trao đổi P nhờ người đàn ông này đi mua hộ 200.000 đồng Heroine để sử dụng, người đàn ông đồng ý, nhận tiền rồi bảo P đi cùng để lấy H, người đàn ông chở P bằng xe mô tô đến đầu cầu B, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu thì dừng xe lại bảo P ngồi đợi, người đàn ông đi vào bản Ta Pả, khoảng 30 phút sau người đàn ông quay lại đưa cho P 01 gói Heroine, bên ngoài được gói bằng mảnh giấy màu trắng, bên trong được gói bằng mảnh ni lon màu xanh rồi chở P quay về. Khi đi đến ngã tư N, P xuống xe, đi tìm chỗ để sử dụng, còn người đàn ông đi đâu Phưởi không rõ. Đến 19 giờ cùng ngày khi P đi đến đầu bản N, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu thì gặp tổ công tác Công an xã N, P ném gói Heroine đang cầm trên tay xuống đất, thì bị tổ công tác phát hiện, khống chế thu giữ 01 gói bột màu trắng, P khai nhận đây là H của P, P mua để sử dụng.
Qua xác định khối lượng và giám định chất ma túy, tại kết luận giám định tư pháp số: 86, ngày 04/6/2024 của người giám định theo vụ việc, đã xác định 01 gói bột, màu trắng thu giữ của Cà Văn P có khối lượng là 0,33gam. Tại bản Kết luận giám định số: 665/GĐ-KTHS, ngày 06/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Mẫu bột khô, màu trắng thu giữ của Cà Văn P gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine.
Cáo trạng số: 62/CT- VKS, ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Cà Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Cà Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Xử phạt bị cáo Cà Văn P từ 01 năm 02 tháng tù đến 01 năm 08 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249 BLHS, đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 46, khoản 1 Điều 47 BLHS, khoản 2 Điều 106 BLTTTHS: Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 mảnh ni lon màu xanh, 01 mảnh giấy màu trắng.
Về án phí hình sự sơ thẩm, đề nghị áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Cà Văn P.
Người bào chữa cho bị cáo, trình bày luận cứ bào chữa, người bào chữa nhất trí với luận tội và đề nghị của kiểm sát viên. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 BLHS và các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo. Đề nghị xử xem xét xử phạt bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt, miễn không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo; đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Cà Văn P.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp các tài liệu trong hồ sơ vụ án. Bị cáo nhất trí với luận cứ bào chữa của người bào chữa, không có ý kiến bổ sung thêm; Bị cáo nhất trí luận tội và đề nghị của kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an huyện S, tỉnh Lai Châu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu và Điều tra viên, Kiểm sát viên được phân công điều tra, truy tố, trong quá trình thực hiện đã tuân thủ đúng theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự, người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa đã chấp hành nghiêm túc, thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của người bào chữa. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa. Hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[ 2 ] Về hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy: Vào hồi 19 giờ 00 phút, ngày 04/6/2024, tại khu vực đầu bản N, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu, Công an xã N, huyện S phát hiện bắt quả tang Cà Văn P đang có hành vi tàng trữ 01 gói Heroine có khối lượng 0,33 gam, Cà Văn P tàng trữ Heroine với mục đích để sử dụng (hít). Như vậy, khẳng định hành vi tàng trữ 0,33 gam Heroine của Cà Văn P để sử dụng đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Do vậy, Cáo trạng số: 62 /CT – VKS, ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ truy tố đối với Cà Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[ 3 ] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhận thấy, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ Heroine là vi phạm pháp luật, nhưng do bị cáo là người nghiện chất ma túy, nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào chính sách độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Do vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, xử phạt tù đối với bị cáo để dăn đe, giáo dục đối với bị cáo và cũng là để phòng, chống các loại tội phạm, đặc biệt là các tội phạm về ma túy tại địa phương. Tuy nhiên, khi xem xét mức hình phạt cần phải xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo là người nghiện chất ma túy.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS cần được áp dụng cho bị cáo; Bị cáo có ông nội là Cà Văn Đ là người có công với cách mạng, được tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng ba; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật còn có hạn chế nhất định, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS cần được áp dụng cho bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên tòa, xét thấy, bị cáo là người lao động tự do, nghiện chất ma túy, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có điều kiện thi hành, Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[ 5 ] Về vật chứng: Đối với 01 mảnh ni lon màu xanh, 01 mảnh giấy màu trắng, đây là công cụ dùng vào việc phạm tội, cần phải tịch thu tiêu hủy.
[ 6 ] Về án phí hình sự sơ thẩm: Xét thấy, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Các vấn đề khác trong vụ án: Theo lời khai của Cà Văn P số Heroine bị thu giữ là do Phưởi nhờ 01 người đàn ông mua hộ, nhưng P không biết rõ nhân thân, lý lịch của người này, nên không thể điều tra, xử lý được đối với người này.
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy luận tội và ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên và một phần ý kiến đề nghị của người bào chữa là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với ý kiến của người bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất khung hình phạt. Nhận thấy, Noong H1 là một trong những địa bàn trọng điểm về ma túy, trong thời gian gần đây các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương và các cơ quan pháp luật đã tích cực đấu tranh, phòng chống nhưng tội phạm ma túy vẫn diễn biến phức tạp, có chiều hướng ra tăng, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc xử phạt trên mức thấp nhất của khung hình phạt vừa để dăn đe phòng ngừa chung và cũng để bị cáo có đủ thời gian cai nghiện chất ma túy. Do vậy, không chấp nhận ý kiến này của người bào chữa.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH;
Áp dụng Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Cà Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Cà Văn P 01 (một ) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tạm giữ, tạm giam là ngày 04/6/2024.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 mảnh ni lon màu xanh; 01 mảnh giấy màu trắng. (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện S, tỉnh Lai Châu và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu ngày 08/10/2024).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Cà Văn P.
Án xử công khai, có mặt bị cáo, bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu để xem xét theo thủ tục phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
|
Bản án số 11/2024/HSST ngày 07/12/2024 của Toà án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 11/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 04/6/2024 công an xã Noong Hẻo, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã phát hiện bắt quả tang
