Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG LA

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 11/2024/HNGĐ-ST

Ngày 04-12-2024.

V/v: Ly hôn giữa chị Nhìa và

anh Xạ.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1 – Bà Nguyễn Thị Hương.
  • 2 – Ông Quàng Văn Mầng.

- Thư ký phiên toà: Ông Quàng Công Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên tòa: Ông Lường Văn Hoan - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 05, 19, 22/11/2024 và ngày 04/12/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2024 về việc: Tranh chấp ly hôn, giữa:

  1. Nguyên đơn: Chị Giàng Thị N, sinh năm 1995.
  2. Trú tại: Bản N, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt.

  3. Bị đơn: Anh Kháng A X, sinh năm 1996.
  4. Trú tại: Bản N, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa, vắng mặt khi tuyên án.

  5. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Kháng A C, sinh năm 1969.
  6. Trú tại: Bản N, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa, vắng mặt khi tuyên án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/8/2024 trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Giàng Thị N trình bày:

Chị và anh Kháng A X kết hôn trên cơ sở tự nguyện, ngày 19/6/2017 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện M, tỉnh Sơn La. Cuộc sống chung không hạnh phúc, đến năm 2020 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Mặc dù đã được gia đình hai bên khuyên giải nhưng không khắc phục được. Từ nhiều năm hai người sống không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Chị Giàng Thị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu được ly hôn anh Kháng A X.

Về con chung: Có một con là Kháng Mai L, sinh ngày 21/02/2017. Chị đi làm ăn xa và nhất trí để anh K A X nuôi con. Chị Giàng Thị N nhất trí cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000, đồng.

Về tài sản chung, riêng, nợ: Đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Giàng Thị N trình bày về yêu cầu đòi tiền thách cưới của ông Kháng A C và anh Kháng A X như sau: Trong số tiền 15.000.000, đồng có 9.500.000, đồng là tiền thách cưới giữa ông Kháng A C với bố mẹ chị, cho cho rằng không liên quan. Còn 5.500.000, đồng là phía anh K A X đòi tiền đền bù danh dự khi ly hôn (năm 2022 hai bên thỏa thuận anh K A X ký đơn thì chị sữ trả cho anh K A X, nhưng anh K A X không ký nên chọ không trả). Nay ông K A C và anh K A X đòi số tiền 15.000.000, đồng chị không nhất trí.

Bị đơn anh Kháng A X trình bày: Anh xác nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Giàng Thị N và anh Kháng A X. Xác nhận nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do nguyên đơn chị Giàng Thị N đi làm ăn dưới xuôi nên thay đổi tình cảm và không về từ năm 2018 đến nay. Anh xác định nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng không khắc phục được và không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Có một con là Kháng Mai L, sinh ngày 21/02/2017. Theo yêu cầu của đương sự để anh K A X trực tiếp nuôi con và chị Giàng Thị N cấp dưỡng nuôi con, mỗi con 2.000.000, đồng một tháng, anh đồng ý.

Về tài sản chung, riêng, nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về yêu cầu theo bố ông Kháng A C: Đòi tiền sính lễ cưới 15.000.000, đồng khi hai bên cưới con có giao cho bên nhà gái. Nay hai người ly hôn thì yêu cầu phải trả lại số tiền trên cho bố Kháng A C.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Kháng A C trình bày: Khi hai bên cưới con bên nhà trai có giao cho bên nhà gái tiền sính lễ cưới (thách cưới) 15.000.000, đồng. Nay hai người ly hôn thì yêu cầu phải trả lại số tiền trên cho ông số tiền trên.

Ý kiến của Kiểm sát viên: Việc áp dụng pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng quy định.

Về nội dung:

Căn cứ khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Toà án:

Có căn cứ để xử cho chị Giàng Thị N được ly hôn anh Kháng A X.

Con chung: Giao cho anh K A X trực tiếp nuôi con Kháng Mai L, sinh ngày 21/02/2017, chị Giàng Thị N cấp dưỡng nuôi con, mỗi con 2.000.000, đồng một tháng, kể từ tháng 01/2025.

Về tài sản chung, riêng, nợ: Đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Không chấp nhận yêu cầu của ông Kháng A C và anh K A X về việc yêu cầu chị Giàng Thị N phải trả lại số tiền sính lễ cưới (thách cưới) 15.000.000, đồng.

Chị Giàng Thị N chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà và các quy định của pháp luật. Tòa án phân tích, đánh giá, nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Giàng Thị N có đơn đề nghị xử vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ theo quy định khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự có đủ căn cứ xử vắng mặt chị Giàng Thị N.

Ông Kháng A C và anh Kháng A X có mặt tại phiên tòa, nhưng vắng mặt khi tuyên án. Căn cứ theo quy định Điều 267 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử tuyên án.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Giàng Thị N và anh Kháng A X có đăng ký kết hôn, có tìm hiểu, tự nguyện là đúng pháp luật. Cuộc sống chung hoà thuận thời gian đầu, mâu thuẫn vợ chồng chủ yếu do hai người bất đồng quan điểm sống. Hai người sống ly thân đến nay không quan tâm đến cuộc sống của nhau, xét mâu thuẫn vợ chồng không khắc phục được là có căn cứ.

Xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng chị Giàng Thị N và anh Kháng A X đã được gia đình và chính quyền khuyên giải, đã kéo dài, trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nay chị Giàng Thị N yêu cầu được ly hôn là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Cần chấp nhận xử cho chị Giàng Thị N được ly hôn anh Kháng A X.

[3] Về con chung: Có một con là Kháng Mai L, sinh ngày 21/02/2017. Căn cứ vào nguyện vọng của chị Giàng Thị N để anh K A X trực tiếp nuôi con và chị Giàng Thị N cấp dưỡng nuôi con 2.000.000, đồng một tháng, nên cần chấp nhận giao cho anh K A X trực tiếp nuôi một con Kháng Mai L, sinh ngày 21/02/2017. Chị Giàng Thị N cấp dưỡng nuôi con 2.000.000, đồng một tháng, theo quy định của các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Về tài sản chung, riêng, nợ: Đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về yêu cầu đòi tiền sính lễ cưới:

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Kháng A C và nguyên đơn anh K A X yêu cầu khi hai bên cưới con có giao cho bên nhà gái tiền sính lễ cưới 15.000.000, đồng. Nay hai người ly hôn thì yêu cầu phải trả lại số tiền trên cho ông K A C.

Tại lời khai của chị Giàng Thị N về nguồn gốc số tiền chi phí thách cưới theo phong tục tập quán, bản thân chị và anh K A X đều không được cầm mà là tiền do hai gia đình (bố mẹ hai bên) thống nhất để chi phí cho thách cưới là đúng phong tục tập quán khi về nhà chồng.

Hội đồng xét xử xét: Đối với số tiền chi phí thách cưới theo phong tục tập quán là do hai bên tự nguyện thỏa thuận, đã được chi phí là đúng phong tục tập quán, nên yêu cầu đòi lại của ông Kháng A C và anh Kháng A X là không có căn cứ chấp nhận.

Chị Giàng Thị N đã được giải thích thủ tục miễn án phí, nhưng chị không cần miễn án phí. Chị Giàng Thị N chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Toà án:

  1. Xử cho chị Giàng Thị N được ly hôn anh Kháng A X.
  2. Về con chung: Giao cho anh K A X trực tiếp nuôi con Kháng Mai L, sinh ngày 21/02/2017. Chị Giàng Thị N cấp dưỡng nuôi con 2.000.000, đồng (hai triệu đồng) một tháng. Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 01/2025.
  3. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

  4. Về tài sản chung, riêng, nợ: Đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  5. Không chấp nhận yêu cầu của ông Kháng A C và anh K A X về việc yêu cầu chị Giàng Thị N phải trả lại số tiền sính lễ cưới (thách cưới) 15.000.000, đồng.
  6. Về án phí: Chị Giàng Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000, đồng (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001700 ngày 01/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Chị Giàng Thị N phải chịu án phí cấp dưỡng là 300.000, đồng (ba trăm nghìn đồng).

Chị Giàng Thị N, ông Kháng A C và anh Kháng A X được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Mường La (2);
  • - Chi cục THADS huyện Mường La;
  • - UBND xã Ngọc Chiến, huyện Mường La, tỉnh Sơn La (để vào sổ hộ tịch);
  • - Các đương sự (3);
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

Nguyễn Minh Tuấn

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/HNGĐ-ST ngày 04/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 11/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn số 11, ngày 04/12/2024
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger