Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SƠN LA

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 11/2024/HS-ST

Ngày 12 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lò Thị Mai Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Kim Cúc

Ông Hà Văn Tiêm

Thư ký phiên toà: Ông Đào Ngọc Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà:

Bà Hoàng Như Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, Thông báo thay đổi ngày xét xử số 959/TB-TA ngày 08 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Lò Văn T

Lò Văn T (tên gọi khác: Không), sinh ngày: 15 tháng 12 năm 1982 tại thành phố S, tỉnh Sơn La; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ B, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La; nơi đăng ký hộ khẩu tạm trú: Thôn Y, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đoàn thể, đảng phái: Không; con ông Lò Trọng T1 (sinh năm 1956) và con bà Nguyễn Thị M (sinh năm 1963); bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thanh H (sinh năm 1981) và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 28/6/2021, bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an quận Đ, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/7/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 01/7/2024, tổ công tác Công an phường C, thành phố S làm nhiệm vụ tại khu vực bản C, phường C, thành phố S đã phát hiện bắt quả tang Lò Văn T, sinh năm 1982, đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 túi nilon loại túi zip màu trắng, bên trong có 02 gói giấy đều có dòng kẻ ô ly, trong gói giấy thứ nhất có chứa cục bột màu trắng và trong gói giấy thứ hai chứa 02 viên nén đồng dạng màu hồng, T khai là ma túy Heroine và Hồng phiến, cất giữ để sử dụng.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S tiến hành bóc mở niêm phong, tách bì, cân tịnh và xác định khối lượng vật chứng khi thu giữ Lò Văn T. Kết quả:

- Cục bột màu trắng có khối lượng là 0,11 gam, lấy toàn bộ 0,08 gam làm mẫu giám định ký hiệu L1, còn lại 0,03 gam làm mẫu lưu kho ký hiệu T1.

- 02 viên nén đồng dạng màu hồng có khối lượng 0,19 gam, lấy 01 viên có khối lượng 0,10 gam làm mẫu giám định ký hiệu là L2. Còn lại 01 viên có khối lượng 0,09 gam làm mẫu lưu kho vật chứng ký hiệu là T2.

Tại Kết luận giám định số: 1417/KL-KTHS ngày 02/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu L1 là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,08 gam. Mẫu gửi ký hiệu L2 là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,10 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,11 gam; loại Heroine, có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất và 0,19 gam, loại Methamphetamine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn T khai nhận: Do nghiện ma túy, khoảng 13 giờ 00 phút ngày 01/7/2024, Lò Văn T đi bộ từ nhà tại tổ B, phường Q, thành phố S đến bản C, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực đường dân sinh gần quán K1 thuộc bản C, phường C, thành phố S thì T gặp và hỏi mua được của một người nam thanh niên (T không biết tên, tuổi, địa chỉ) một túi nilon loại túi zip màu trắng, bên trong có 02 gói giấy đều có dòng kẻ ô ly, trong 01 gói giấy thứ nhất có ma túy Heroine và bên trong 01 gói giấy thứ hai có chứa 02 viên ma túy Hồng phiến với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Sau khi mua, T cầm gói ma túy vừa mua được cất vào túi quần bên phải phía trước đang mặc trên người rồi đi bộ tìm nơi sử dụng. Khi T đang đi bộ trên đường N, thuộc bản C, phường C, thành phố S thì bị Công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Thực hiện điều tra xác minh đối với nam thanh niên bán trái phép chất ma túy cho Lò Văn T nhưng không có cơ sở để mở rộng điều tra vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 484/CT-VKS ngày 15/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Lò Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là đúng người, đúng tội.

Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Lò Văn T từ 15 (mười lăm) đến 20 (hai mươi) tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở; 02 mảnh giấy có dòng kẻ ô ly; 01 túi zip nilon màu trắng; mẫu lưu 0,03 (không phẩy không ba) gam Heroine ký hiệu T1 và 0,09 (không phẩy không chín) gam Methamphetamine ký hiệu là T2.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lò Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến gì đối đáp với đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
  2. Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 01/7/2024, Lò Văn T đã có hành vi cất giữ trái phép 0,11 gam Heroine và 0,19 gam Methamphetamine, hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng: Lời khai nhận tội của bị cáo; biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 13 giờ 50 phút ngày 01/7/2024 tại bản C, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La đối với Lò Văn T cùng vật chứng thu giữ là 01 túi nilon loại túi zip màu trắng, bên trong có 02 gói giấy đều có dòng kẻ ô ly, trong gói giấy thứ nhất có chứa cục bột màu trắng và trong gói giấy thứ hai chứa 02 viên nén đồng dạng màu hồng, T khai là ma túy Heroine và Hồng phiến, cất giữ để sử dụng; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 1417/KL-KTHS ngày 02/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh S; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của ông Hoàng Văn C, sinh năm 1963, trú tại bản M, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La, là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang.

Từ các căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

  1. Về tính chất mức độ của hành vi: Bị cáo Lò Văn T phạm tội tàng trữ trái phép 2 chất ma túy là 0,11 gam Heroine và 0,19 gam Methamphetamine, căn cứ theo quy định tại Điều 4 của Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự thì hai chất ma túy thu giữ của Lò Văn T được tính tổng là 0,30 gam, và vi phạm vào tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, khung hình phạt có mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và thuộc loại tội phạm nghiêm trọng.

Hành vi vi phạm của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi của bị cáo, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để đảm bảo giáo dục, cải tạo thành người tốt, có ích cho xã hội và cũng nhằm răn đe, phòng ngừa, giáo dục cho hành vi tương tự.

  1. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 28/6/2021, bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an quận Đ, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (bị cáo đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp tiền và đủ điều kiện để được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính). Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, Đại diện Viện kiểm sát quy kết bị cáo phạm tội và đề nghị xử phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp.

  1. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Ba. Do đó, xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  2. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bản thân bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  3. Về biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/7/2024 được xem xét khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
  4. Về nguồn gốc số ma túy 0,11 gam Heroine và 0,19 gam Methamphetamine: Bị cáo khai ngày 01/7/2024, bị cáo mua được của một người nam thanh niên, không biết tên tuổi, địa chỉ tại khu vực đường dân sinh gần quán K1 thuộc bản C, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Ngoài lời khai của bị cáo, cơ quan chức năng đã tiến hành điều tra xác minh, nhưng không thu thập được tài liệu chứng cứ gì, do đó buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự toàn bộ đối với số ma túy bị thu giữ.
  5. Vật chứng của vụ án: Đối với 0,03 (không phẩy không ba) gam Heroine ký hiệu là T1 và 0,09 (không phẩy không chín) gam Methamphetamine ký hiệu là T2 hiện đang lưu kho vật chứng, là vật cấm tàng trữ, lưu hành; 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở, 02 mảnh giấy màu trắng có các dòng kẻ ô ly; 01 túi nilon màu trắng loại túi zip là vật chứng không có giá trị sử dụng, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu và tiêu hủy.
  6. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt: Bị cáo Lò Văn T 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 01/7/2024).

    Không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.

  2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu và tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở; 01 túi nilon màu trắng loại túi zip, 02 mảnh giấy màu trắng có các dòng kẻ ô ly; 0,03 (không phẩy không ba) gam Heroine ký hiệu là T1 và 0,09 (không phẩy không chín) gam Methamphetamine ký hiệu là T2 (được niêm phong trong 01 phong bì công văn có dán giấy niêm phong số 084387 của Công an thành phố S).

    (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/10/2024 giữa Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lò Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 12/11/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - Sở tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - VKSND thành phố Sơn La;
  • - Công an thành phố Sơn La;
  • - Chi cục THA dân sự thành phố Sơn La;
  • - Bị cáo;
  • - THAHS;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lò Thị Mai Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 11/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án số 11/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger