Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN TÂN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2024/HS-ST

Ngày 06-11-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh;

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Đình Cường.

2. Ông Hoàng Văn Phanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thuý Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham

gia phiên tòa: Bà Lương Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Vàng Văn T, sinh ngày 01/01/1989 tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản N, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Giáy; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vàng Văn D, sinh năm 1961 và con bà: Lò Thị T1, sinh năm 1959; vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không.

- Tiền sự: Bị cáo có 01 tiền sự, cụ thể: Ngày 17/5/2024 Vàng Văn T bị Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 18 tháng theo Quyết định số 14/2024/QĐ-TA (Vàng Văn T chưa đi chấp hành).

- Về nhân thân:

+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 07/2015/HSST ngày 06/3/2015 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên xử phạt Vàng Văn T 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản. Đến ngày 11/9/2015 Vàng Văn T chấp hành xong án phạt cải tạo không giam giữ, hiện đã được xóa án tích.

+ Ngày 25/4/2022 Vàng Văn T đã tự nguyện đăng ký cai nghiện ma túy với thời gian 06 tháng tại Trung tâm điều trị cai nghiện bắt buộc tỉnh Lai Châu. Ngày 24/10/2022 Vàng Văn T hoàn thành cai nghiện ma túy tự nguyện.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 16/6/2024 đến ngày 25/6/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Vàng Văn K, sinh ngày 20/5/1998 tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản N, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Giáy; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vàng Văn V, sinh năm 1975 và con bà: Vàng Thị Y, sinh năm 1968; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không.

Tiền sự: Tại quyết định số 15/2022/QĐ-TA ngày 15/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vàng Văn K trong thời hạn 18 tháng. Đến ngày 17/01/2024 Vàng Văn K chấp hành xong quyết định trên.

Bị cáo bị bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 16/6/2024 đến ngày 25/6/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Lý Văn Q, sinh ngày 08/10/1998 tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản N, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Giáy; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lý Văn P, sinh năm 1967 và con bà: Hù Thị M, sinh năm 1966; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 16/6/2024 đến ngày 25/6/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Chị Hoàng Thị D1, sinh năm: 1998 (vắng mặt).
  2. Ông Vàng Văn V, sinh năm: 1975 (có mặt).

Đều có địa chỉ: Bản N, xã P, huyện T, Lai Châu

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ ngày 16/6/2024 Vàng Văn T gặp và rủ Vàng Văn K, Lý Văn Q góp tiền đi mua Heroin để về cùng nhau sử dụng, K và Q đồng ý và hẹn đến 11 giờ cùng ngày sẽ góp tiền đi mua Heroin với T. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 25B1- 518.66 quay lại gặp K và Q để rủ đi mua Heroin nhưng K bảo không đi nữa. Sau đó T một mình điều khiển xe mô tô đi đến tổ dân phố C, thị trấn T thì gặp một người đàn ông không rõ lai lịch. Qua nói chuyện người đàn ông này rủ T đi đến bản C, thị trấn T tìm mua Heroin để cùng sử dụng, T đồng ý. Sau đó T chở người này đi cùng xe lên bản Chạm Cả tìm mua H.

Đối với K và Q: Vào khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày K rủ Q góp tiền đi mua Heroin để sử dụng, Q đồng ý rồi đưa cho K 40.000 đồng (gồm 01 tờ 20.000 đồng và 02 tờ tiền 10.000 đồng) để góp tiền mua Heroin. Sau đó K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 25B1- 411.40 chở Q đi đến bản C, thị trấn T thì gặp T chở người đàn ông đi cùng T cũng đang đi xe mô tô tìm mua Heroin. Khi gặp nhau, T rủ K và Q góp tiền rồi cùng đi đến tổ dân phố B, thị trấn T, huyện T tìm mua H, K và Q đồng ý. Khi nhóm 4 người (gồm T, K, Q và người đàn ông đi cùng T) cùng đi đến chợ T2 thuộc tổ dân phố B, thị trấn T, huyện T thì dừng xe. Tại đây vào khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, T bảo góp tiền để mua H thì K lấy ra 80.000 đồng gồm 40.000 đồng của Q và 40.000 đồng của K (gồm 02 tờ 20.000 đồng) đã góp nhau từ trước ra đưa cho T. Khi K lấy tiền ra góp, Q đứng bên cạnh biết và đồng ý. Ngay sau đó T lấy ra 01 tờ tiền 20.000 đồng của T góp chung vào được tổng 100.000 đồng. Cùng lúc này có 01 nam thanh niên không rõ lai lịch đi xe mô tô đến gặp nhóm của T hỏi chỗ mua H sử dụng. Tại đây nam thanh niên này hỏi có mua được H không thì người đàn ông đi cùng với T trả lời là mua được. Khi được T hỏi có bao nhiêu tiền, nam thanh niên này trả lời góp 100.000 đồng. Thấy vậy người đàn ông đi cùng T bảo cứ gom hết vào để đi mua một thể về cùng nhau sử dụng thì tất cả đồng ý. Sau đó nam thanh niên vừa đến này đưa cho người đàn ông đi cùng T 100.000 đồng để góp rồi T cũng đưa 100.000 đồng bao gồm tiền của T, Q và K đã góp cho người đàn ông này đi mua Heroin cho cả nhóm, người đàn ông này đồng ý. Tuy nhiên trước khi đưa tiền T đã giữ lại 30.000 đồng tiền lẻ trong tổng số tiền đã góp rồi lấy tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng chẵn của T ra bù vào cho đủ 100.000 đồng rồi đưa. Sau khi nhận tổng số 200.000 đồng, người đàn ông đi cùng T mượn xe mô tô của K rồi điều khiển đi tìm mua Heroin, còn T, K, Q và nam thanh niên đứng đợi. Trong lúc đợi, T đã dùng 2.000 đồng trong số tiền lẻ giữ lại mua 01 bật lửa ga màu tím để sử dụng Heroin, chỉ còn lại 28.000 đồng.

Một lúc sau người đàn ông đi cùng T quay lại nói là không mua được H rồi rủ T đi mua cùng, T đồng ý rồi để lại xe mô tô cho K giữ. Sau đó người đàn ông này điều khiển xe mô tô của K chở T đi tìm mua Heroin. Trên đường đi người này đưa lại cho T số tiền 200.000 đồng để T cầm. Khi cả hai đi ra tổ dân phố A, thị trấn T vị trí sau chợ thì cả hai cùng gặp một nam thanh niên không rõ lai lịch. Tại đây T hỏi và trực tiếp đưa tiền rồi mua được 01 gói Heroin được gói bằng một mảnh giấy bạc màu trắng và được gói thêm bên ngoài bằng 01 mảnh nilon màu xanh của nam thanh niên này bằng số tiền 200.000 đồng đã góp lúc trước. Sau khi T mua được H, người đàn ông đi cùng T bảo T mang H về trước rồi người này đi đâu không rõ. Sau đó T một mình cầm gói H vừa mua được ở tay trái rồi điều khiển xe mô tô quay lại chỗ Q, K và nam thanh niên đang đợi.

Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày khi T đi đến cầu chợ T2 thuộc tổ dân phố B, thị trấn T thì gặp Công an huyện T đang làm việc. Do lo sợ bị phát hiện nên T đã ném gói H đang cầm ở tay trái sang phía bên phải theo chiều đi của T thì gói Heroin rơi vào tấm bạt nhựa màu xanh dùng để che mưa đang được chăng ở cạnh đường nhưng bị Công an phát hiện. Ngay sau đó Công an huyện T tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ gói Heroin có khối lượng là 0,34 gam. Tại chỗ T thừa nhận gói vừa ném là Heroin do T ném, mục đích mang về để cả nhóm cùng nhau sử dụng. Công an còn thu giữ của T 01 bật lửa ga màu tím, số tiền 28.000 đồng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, Wave RSX, màu đỏ, đen, biển kiểm soát: 25B1-411.40, số khung: 3812GY069137, số máy: JA38E0158674, xe đã qua sử dụng.

Căn cứ lời khai của Vàng Văn T, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Vàng Văn K và Lý Văn Q khi K và Q đang ở nghĩa trang xã T huyện T chờ T mang H về cùng nhau sử dụng. Còn nam thanh niên góp 100.000 đồng để mua Heroin thì đã chạy thoát. Tại cơ quan điều tra T, K và Q đã thành khẩn khai nhận hành vi góp tiền để mua H cùng nhau sử dụng của bản thân.

Ngày 16/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện T đã tiến hành thành lập Hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu vật giám định và niêm phong vật chứng. Tại kết luận giám định số 56/KL-TCGĐ ngày 16/6/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: Vật chứng nghi là chất ma túy thu giữ của Vàng Văn T, Vàng Văn K và Lý Văn Q có khối lượng là 0,34 gam.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trích 0,25 gam trong tổng số 0,34 gam chất bột màu trắng thu giữ của Vàng Văn T, Vàng Văn K và Lý Văn Q, theo T, Q và K khai nhận là H gửi giám định. Tại bản kết luận giám định số 782/KL-KTHS ngày 20/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H1), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T trưng cầu giám định số tiền 28.000 đồng thu giữ của Vàng Văn T. Tại kết luận giám định số 781/KL-KTHS ngày 20/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: Số tiền 28.000 đồng gửi giám định là tiền thật.

Bản Cáo trạng số 83/CT -VKS - TU, ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên để xét xử Vàng Văn T, Vàng Văn K, Lý Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vàng Văn T mức án từ 01 năm 10 tháng đến 02 năm 04 tháng tù, xử phạt bị cáo Vàng Văn K mức án từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 10 tháng tù, xử phạt bị cáo Lý Văn Q mức án từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 08 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ Luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy: 0,09 gam Heroin, 01 mảnh giấy bạc màu trắng, 01 mảnh nilon màu xanh, 01 bật lửa ga màu tím. Trả lại cho ông Vàng Văn V: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, Wave RSX, màu đỏ, đen, biển kiểm soát: 25B1-411.40, số khung: 3812GY069137, số máy: JA38E0158674 xe đã qua sử dụng. Trả lại cho chị Hoàng Thị D1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Blade màu sơn trắng đen, biển kiểm soát: 25B1- 518.66, số khung: RLHJA3633GY115255, số máy: JA36E0666913, xe đã qua sử dụng. Trả lại cho bị cáo Vàng Văn T 28.000 đồng

Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các bị cáo đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có tranh luận gì.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Vàng Văn V trình bày chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, Wave RSX, màu đỏ, đen biển kiểm soát: 25B1-411.40 thu giữ của Vàng Văn T là xe do Vàng Văn K mượn của ông, việc bị cáo T sử dụng chiếc xe để thực hiện hành vi phạm tội thì ông không biết, ông V có nguyện vọng xin lại chiếc xe mô tô trên để phục vụ việc đi lại của gia đình.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Blade, màu sơn trắng đen, biển kiểm soát: 25B1- 518.66 thu giữ của Vàng Văn K là xe do Vàng Văn T mượn của Vàng Văn Q1 trú cùng bản. Chiếc xe này Q1 mượn của chị Hoàng Thị D1 dùng để đi lại từ trước. Việc T dùng xe đi mua Heroin thì Q1 và chị D1 không biết, hiện nay chị D1 đang đi làm và không có mặt tại địa phương.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo Vàng Văn K, Vàng Văn T, Lý Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 16/6/2024 tại cầu chợ T2 thuộc tổ dân phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu, Vàng Văn T, Vàng Văn K, Lý Văn Q và 01 nam thanh niên không rõ lai lịch cùng nhau góp được số tiền 200.000 đồng để mua Heroin cùng nhau sử dụng (trong đó T góp 20.000 đồng, K và Q mỗi người góp 40.000 đồng và nam thanh niên không rõ lai lịch góp 100.000 đồng). Sau đó T cùng một người đàn ông không rõ lai lịch khác dẫn đường tìm và mua được 01 gói Heroin bằng số tiền 200.000 đồng đã góp. Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày, tại tổ dân phố B, thị trấn T, huyện T, khi Vàng Văn T đang tàng trữ 01 gói Heroin có khối lượng 0,34 gam mục đích mang về để T, Q, K và nam thanh niên không rõ lai lịch cùng nhau sử dụng thì Vàng Văn T bị Công an huyện T phát hiện bắt quả tang. Căn cứ lời khai của Vàng Văn T, cùng ngày Công an huyện T đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Vàng Văn K và Lý Văn Q đồng phạm với Vàng Văn T về hành vi tàng trữ trái phép 0,34 gam Heroin.

Các bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, tuy nhiên vì muốn có ma túy để sử dụng mà các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của các bị cáo không những làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn mà còn làm ảnh hưởng đến đời sống sức khỏe con người, làm gia tăng tệ nạn và các loại tội phạm khác, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Xét thấy, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục riêng các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tuy nhiên bị cáo T, bị cáo K đều bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, bị cáo T có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, do vậy quá trình lượng hình Hội đồng xét xử cần có hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa các bị cáo T, K, Q đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó Vàng Văn T là người rủ rê, khởi xướng việc góp tiền đi mua H, T là người trực tiếp mua và tàng trữ gói Heroin để mang về sử dụng nên phải chịu trách nhiệm với vai trò chính. Các bị cáo Vàng Văn K và Lý Văn Q cùng nhau góp tiền với Vàng Văn T để mua H nên phải chịu trách nhiệm với vai trò đồng phạm tích cực.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình các bị cáo khó khăn, các bị cáo đều là lao động tự do, không có việc làm và thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

  • Số Heroin thu giữ 0,34gam đã trích 0,25 gam gửi giám định, còn lại 0,09 gam là chất Nhà nước cấm cần tịch thu tiêu hủy.
  • 01 mảnh giấy bạc màu trắng, 01 mảnh nilon màu xanh, 01 bật lửa ga màu tím là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • Số tiền 28.000 đồng thu giữ của Vàng Văn T không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần xem xét trả lại cho bị cáo.
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, Wave RSX, màu đỏ, đen, biển kiểm soát: 25B1-411.40, số khung: 3812GY069137, số máy: JA38E0158674, xe đã qua sử dụng thu giữ trong quá trình giải quyết vụ án xác định là tài sản hợp pháp của ông Vàng Văn V, việc bị cáo K mượn xe của ông V và sử dụng để đi mua Heroin thì ông V không biết nên cần xem xét trả lại xe cho ông Vàng Văn V.
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Blade màu sơn trắng đen, biển kiểm soát: 25B1- 518.66, số khung: RLHJA3633GY115255, số máy: JA36E0666913, xe đã qua sử dụng thu giữ của Vàng Văn T, là xe do Tỉnh mượn của Vàng Văn Q1, sinh năm 1994 trú tại bản Nậm Bon, xã P, huyện T. Chiếc xe này Q1 mượn của Hoàng Thị D1, việc T dùng xe đi mua Heroin thì Q1 và D1 không biết, do vậy cần xem xét trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Hoàng Thị D1.

[6] Về án phí: Các bị cáo Vàng Văn T, Vàng Văn K, Lý Văn Q bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[8] Các đối tượng hành vi liên quan đến vụ án:

Về nguồn gốc 0,34 gam Heroin, Vàng Văn T khai do T trực tiếp mua của một nam thanh niên không rõ lai lịch tại tổ dân phố A, thị trấn T, huyện T. Quá trình điều tra, không xác định được nam thanh niên này nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với nam thanh niên đã góp 100.000 đồng để mua Heroin cùng Vàng Văn T, Vàng Văn K và Lý Văn Q, quá trình điều tra xác định T, K và Q đều không biết nhân thân, lai lịch của người này. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành xác minh nhưng không có kết quả nên không có căn cứ để điều tra xử lý.

Đối với người đàn ông không rõ lai lịch đi cùng Vàng Văn T từ bản Chạm Cả thị trấn T và sau đó cùng T đi mua H, Vàng Văn T và những người còn lại không ai biết nhân thân, lai lịch của người này. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành xác minh nhưng không có kết quả nên không có căn cứ để điều tra xử lý.

Đối với Vàng Văn V là chủ sở hữu chiếc xe mô tô đã cho Vàng Văn K mượn và Hoàng Thị D1 là chủ sở hữu đối với chiếc xe mô tô đã cho Vàng Văn Q1 mượn, sau đó Q1 lại cho Vàng Văn T mượn. Quá trình điều tra xác định việc K, T dùng xe đi mua, tàng trữ Heroin thì Vàng Văn V, Hoàng Thị D1 và Vàng Văn Q1 đều không biết. Vì vậy cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không đề cập xử lý là đúng quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố các bị cáo Vàng Văn T, Vàng Văn K, Lý Văn Q phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Vàng Văn T 01 năm 10 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/6/2024.

Xử phạt bị cáo Vàng Văn K 01năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/6/2024.

Xử phạt bị cáo Lý Văn Q 01 năm 05 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/6/2024.

  1. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư của Công an huyện T, màu trắng, hình chữ nhật, bên trong đựng 0,09 gam Heroin, 01 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh giấy bạc màu trắng. Vật chứng được niêm phong theo quy định; 01 (một) chiếc bật lửa ga có vỏ được làm bằng nhựa màu tím, nhãn hiệu “H-VIET”, đã qua sử dụng.
  • + Trả lại cho ông Vàng Văn V, sinh năm: 1975, địa chỉ: Bản N, xã P, huyện T, Lai Châu: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu sơn đỏ đen biển kiểm soát 25B1-411.40 số khung 3812GY069137, số máy: JA38E0158674. Xe đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong.
  • + Trả lại cho chị Hoàng Thị D1, sinh năm: 1998, địa chỉ: Bản N, xã P, huyện T, Lai Châu: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BLADE màu sơn trắng đen biển kiểm soát 25B1-518.66 số khung RLHJA3633GY115255, số máy: JA36E0666913. Xe đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong.
  • + Trả lại cho bị cáo Vàng Văn T số tiền 28.000 đồng.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng hồi 10 giờ 30 phút, ngày 16/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu).

  1. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Vàng Văn K, Vàng Văn T, Lý Văn Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Tân Uyên;
  • - Chi Cục THADS huyện Tân Uyên;
  • - Công an huyện Tân Uyên;
  • - Các bị cáo; Người có QLNVLQ;
  • - Lưu HSVA./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/HS-ST ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 11/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 249 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger