Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2024/HS-ST

Ngày 29/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Nam - Phó trưởng phòng Phòng Giáo dục và đào tạo thị xã Quế Võ; Bà Nguyễn Thị Phú - Giáo viên nghỉ hưu.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Xuân Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

  1. Quàng Văn B, sinh ngày 10/01/2007.

    HKTT: Bản T, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Thái. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12. Họ và tên bố: Quàng Văn S, sinh năm 1985. Họ và tên mẹ: Quàng Thị T, sinh năm 1991. Bị cáo là con một trong gia đình. Vợ, con: Chưa có.

    • Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
    • Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/6/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B.
  2. Quàng Văn Đ, sinh năm 2001.

    HKTT: Bản Sang, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Thái. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12. Họ và tên bố: Quàng Văn H, sinh năm 1976. Họ và tên mẹ: Lò Thị V, sinh năm 1975. Gia đình có 3 chị em, bị cáo là con thứ hai. Vợ, con: Chưa có.

    • Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
    • Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/6/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B.
  3. Bùi Văn T1, sinh ngày 07/12/2006.

    HKTT: Thôn Đ, Xã T, Huyện T, Thanh Hóa. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Mường. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12. Họ và tên bố: Bùi Văn T2, sinh năm 1979. Họ và tên mẹ: Bùi Thị X, sinh năm 1978. Gia đình có 2 chị em, bị cáo là con thứ hai. Vợ, con: Chưa có.

    • Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
    • Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/6/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B.

- Người đại diện hợp pháp của các bị cáo:

  1. Người đại diện hợp pháp của bị cáo Quàng Văn B: Bà Quàng Thị T, sinh năm 1991 (mẹ đẻ bị cáo); có mặt.

    HKTT: Bản T, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La. Có mặt.

  2. Người đại diện hợp pháp của bị cáo Bùi Văn T1: Bà Bùi Thị X, sinh năm 1978 (mẹ đẻ bị cáo) có mặt.

    HKTT: Thôn Đ, xã T, huyện T, Thanh Hóa.

- Người bào chữa cho các bị cáo:

  1. Người bào chữa cho bị cáo Quàng Văn B: Ông Trần Văn T3 – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Có mặt.
  2. Người bào chữa cho bị cáo Bùi Văn T1: Ông Nguyễn Văn H1– Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Có mặt.

- Bị hại: Anh Giàng Mạnh H2, sinh năm 2008. Vắng mặt.

HKTT: Thôn P, xã P, huyện M, tỉnh Lào Cai.

- Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Chị Giàng Thị H3, sinh năm 2004

HKTT: thôn P, xã P, huyện M, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

  • + Ông Nguyễn Kim S1 – Cán bộ phụ trách tin học Toà án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
  • + Cán bộ phụ trách tin học Trại tạm giam – Công an tỉnh B. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Quàng Văn B, Giàng Mạnh H2 và Lê Anh T4, sinh ngày 09/8/2009, HKTT: thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (gọi tắt là T4 2009) quen nhau và thường xuyên chơi game với nhau. Khoảng ngày 09/6/2024, H2 chơi game tại quán internet thuộc khu phố D, phường P, thị xã Q và có đi lên phòng trọ số 45 tầng 4 của B và T4 2009 thuê tại nhà bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1960 ở khu phố D, phường P, thị xã Q để đi vệ sinh nhờ, khi đó H2 gặp Lò Thị Lim L, sinh ngày 19/8/2010, HKTT: bản Mường Lựm, xã M, huyện Y, tỉnh Sơn La (là bạn gái của B) đang ngồi trong phòng cùng B và T4 2009. H2 có kể với T4 2009 nội dung nói xấu Lê thì Tuấn 2009 kể lại với B và L. Do bực tức với hành động của H2 nên B kể lại cho Bùi Văn T1 (T1 2006) và Đ biết thì cả ba thống nhất với nhau gặp H2 ở đâu thì sẽ đánh ở đó để răn đe.

Khoảng 14 giờ ngày 15/6/2024, khi biết H2 đang chơi game tại quán Internet tại tầng 1 nhà bà T5 ở khu phố D, phường P thì B rủ H2 lên phòng của B chơi và bảo B đi ra ngoài mua đồ ăn thì H2 đưa cho B 200.000 đồng để B đi mua đồ ăn và rượu để sau đó H2 lên phòng ăn uống cùng. Khoảng 20 phút sau, B rủ H2 cùng lên phòng trọ của B, mời T1 2006 và Đ xuống phòng của mình để cùng uống rượu, mọi người nói chuyện một lúc thì H2 nói xuống quán Internet đang chơi để tắt máy tính. Khi H2 vừa đi xuống thì B bàn bạc với T1 (2006) và Đ là sẽ ngồi ăn uống với H2 được khoảng 2-3 chén rượu rồi cùng đánh H2 thì mọi người đều đồng ý. Khoảng 05 phút sau, H2 quay lại phòng của B và ngồi ăn cùng mọi người ở trên chiếu dưới nền phòng gần với giường ngủ và phòng vệ sinh (lúc này chỉ có B, T1 (2006), Đ và H2 ngồi ăn uống với nhau, còn Lê ngồi cầm điện thoại chơi ở cửa phòng). Do thiếu chén để uống rượu nên T1 (2006) đi sang phòng trọ số 46 tầng 4 khu nhà trọ trên để rủ thêm Hoàng Trọng P, sinh ngày 24/6/2009, HKTT: TDP M, xã M, huyện M, tỉnh Lào Cai sang ăn uống cùng, đồng thời nhờ P mang thêm chén uống rượu sang, P đồng ý và mang chén uống rượu sang và ăn uống cùng mọi người. Khi tất cả uống được 02 chén rượu, B đứng dậy dùng tay trái túm cổ áo của H2 và nói với H2 “Mày thích soi mói đồ lót của người yêu tao không?”, ngay lập tức Đ đứng dậy dùng tay phải tát 01 cái trúng vào mặt của H2, T1 (2006) chạy ra ngoài cửa phòng cầm 01 điếu cày vào dọa đánh H2 “Giờ mày thích thế nào? Mày tin tao đập cho mày phát không?”, còn P ngồi dưới chiếu, không tham gia đánh H2. Lúc này, H2 lo sợ và liên tục nói xin lỗi mọi người, B vẫn dùng tay túm cổ áo của H2 và kéo H2 đẩy lên trên giường. B cùng T1 (2006) và Đ thay nhau chửi bới, đe doạ và dùng chân, tay đá, đấm, tát nhiều lần vào người của H2, H2 sợ hãi liên tục xin lỗi mọi người và hứa lần sau không dám thế nữa và nói “Nếu các anh không tin lời xin lỗi của em thì các anh có thể quay video lại”. Lúc này, B lấy điện thoại của Lê quay lại video H2 xin lỗi mọi người khoảng vài phút thì B đưa điện thoại của L cho P để nhờ P quay lại video H2 xin lỗi mọi người, P đồng ý. Sau đó, Đ cầm điện thoại gọi Facebook cho Nguyễn Tiến T6, sinh ngày 20/3/2006, HKTT: Bản Mường Bú, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La (là người Điệp quen biết ngoài xã hội) với mục đích gọi T6 đến cùng đánh H2, T6 đồng ý. Lúc này, Đ quát và yêu cầu H2 ngồi quỳ gối ở trên giường tiếp tục xin lỗi mọi người, sau khi quay video H2 xin lỗi mọi người xong thì P đưa trả lại điện thoại cho L. Khoảng 10 phút sau, B lấy 01 con dao (loại dao gọt hoa quả) để ở trên bàn cạnh giường ngủ, B dùng tay phải cầm sát vào mũi lưỡi dao rồi dí sát vào vùng cổ và vùng mặt của H2 để doạ H2 đồng thời nói “Mày tin tao cắt lưỡi mày hay không?”, “Lần sau mày chừa vào phòng người khác soi mói không tao gặp ở đâu tao đánh đấy”, doạ xong B để dao lại trên bàn. Lúc này, Lê đi lên trên giường và dùng tay phải tát vào mặt H2 02 cái đồng thời chửi H2 “Mày thích soi quần lót của tao không?”, rồi Lê Đ1 ra ngoài cửa tiếp tục dùng điện thoại. Mọi người không ai đánh H2 nữa và vẫn bắt H2 ngồi quỳ ở trên giường. Khoảng 10 phút sau, T6 rủ Nguyễn Lam T7, sinh ngày 26/9/2006, HKTT: thôn B, xã B, huyện M, tỉnh Lào Cai đến phòng trọ của B. T6 đứng ở cửa phòng còn T7 đi vào phòng, dùng tay, chân tát, đánh H2 khiến H2 từ trên giường ngã xuống đất, T7 bắt H2 quỳ dưới nền nhà và dùng dép liên tục vả vào vùng mặt của H2. Sau đó, do có việc bận nên T7 và T6 đã đi về trước.

Lúc này, B thấy 01 điện thoại Iphone XS Max, màu đen của H2 đang sạc pin để trên giường, do không có điện thoại dùng nên nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại trên. Bích, T1 (2006) yêu cầu H2 cung cấp mật khẩu điện thoại và I rồi thoát tài khoản Icloud của H2 và xóa mật khẩu điện thoại khỏi máy và đưa điện thoại cho Đ giữ. Đ yêu cầu H2 đưa 1.500.000 đồng thì sẽ trả lại điện thoại. Sau đó, H2 xin phép được ngồi dậy và đi về. Tuy nhiên, khi H2 vừa đi ra ngoài cửa thì B gọi H2 quay lại lấy túi quần áo H2 để quên ở phòng, khi vừa quay lại thì Bích quát và yêu cầu H2 đưa hết số tiền còn lại cho B. Do bị đe doạ và lo sợ bị đánh nên H2 đã rút từ túi quần đang mặc ra 130.000 đồng (gồm 01 tờ tiền 100.000 đồng, 01 tờ tiền 10.000 đồng và 01 tờ tiền 20.000 đồng) và đưa cho B tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng còn xin giữ lại 30.000 đồng để gọi về cho gia đình thì B đồng ý và cầm lấy tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng của H2. Đ, T1 2006, L vẫn ở đó nhưng không ai can ngăn gì. Trước khi về, Đ bắt H2 không được kể và nói gì về sự việc trên.

Sau đó Công an thị xã Q nhận được đơn trình báo của anh Giàng Mạnh H2 về sự việc nêu trên. Cùng ngày 15/6/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q tiến hành triệu tập B, Đ và T1 đến làm việc. Tại đây, các đối tượng đã đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐGTS ngày 24/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Q kết luận: “Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu đen, số IMEI: 357264095525193, đã qua sử dụng tại thời điểm tháng 06/2024 có giá trị là: 4.500.000 đồng.

Quá trình điều tra, gia đình bị cáo B cung cấp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q bệnh án tâm thần của bị cáo B nên ngày 23/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q trưng cầu Trung tâm P1 tâm thần khu vực miền bắc giám định nội trú tâm thần đối với bị cáo B.

Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 119/KLGĐ ngày 15/8/2024 của Trung tâm P1 tâm thần khu vực Miền núi phía Bắc kết luận:

“- Bị can Quàng Văn B, sinh năm 2007, HKTT: bản Tà Vài, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La không bị bệnh Tâm thần.

- Tại thời điểm xảy ra sự việc ngày 15/6/2024, bị can Quàng Văn B không bị tâm thần, bị can Quàng Văn B đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.

- Hiện tại (thời điểm giám định) bị can Quàng Văn B không bị bệnh tâm thần, bị can Quàng Văn B đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi".

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 152/CT-VKSQV ngày 01/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố Quàng Văn Đ, Bùi Văn T1 và Quàng Văn B về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d, e Khoản 2, Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu. Các bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bản cáo trạng truy tố các bị cáo về tội “Cướp tài sản” là đúng.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo:

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Quàng Văn Đ, Bùi Văn T1 và Quàng Văn B phạm tội “Cướp tài sản” và đề nghị:

  • - Áp dụng điểm d, e Khoản 2, Điều 168; điểm b, s, K, Khoản 2, Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự:
  • Xử phạt: Quàng Văn B từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam.
  • - Áp dụng điểm d, e Khoản 2, Điều 168; điểm b, s, K, Khoản 2, Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự:
  • Xử phạt: Quàng Văn Đ từ 07 năm 03 tháng tù đến 07 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam.
  • - Áp dụng điểm d, e Khoản 2, Điều 168; điểm b, s, K, Khoản 2, Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự:
  • Xử phạt: Bùi Văn T1 từ 05 năm 03 tháng tù đến 05 năm 9 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam.
  • Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
  • Về trách nhiệm dân sự: không xem xét giải quyết.
  • -Về vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
  • + Tịch thu tiêu huỷ 01 con dao nhọn dài 18,5cm, chuôi cầm dao bằng nhựa màu vàng cam dài 10cm, lưỡi dao bằng kim loại có đầu nhọn màu trắng bạc dài 8,5cm; 01 chiếc điếu cày bằng ống tre màu vàng, có chiều dài 56cm, hình trụ tròn đường kính 04cm, có nõ điếu bằng kim loại màu trắng bạc và 01 chiếc chiếu màu xanh đỏ vàng, kích thước 1,8mx1,5m.
  • + Sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu trắng vàng, mặt kính trước bị dập vỡ, số máy: MNFR2LL/A, số seri: F2LST4S3HFXY, số IMEI: 353817082975954.
  • - Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Quàng Văn B, Bùi Văn T1 nhất trí với tội danh, điều luật và hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật, xử phạt các bị cáo với hình phạt nhẹ nhất.

Các bị cáo nhận tội, không có ý kiến gì và đều nhất trí với ý kiến của người bào chữa, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng và đầy đủ các hành vi, quyết định tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, thời gian, địa điểm, vật chứng thu được, lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 16 giờ ngày 15/6/2024 tại phòng trọ khu phố D, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, các bị cáo Quàng Văn B, Quàng Văn Đ, Bùi Văn T1 có hành vi dùng tay, chân đánh gây thương tích, sử dụng điếu cày, dao để đe doạ và chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu đen trị giá 4.500.000 đồng và số tiền 100.000 đồng của bị hại Giàng Mạnh H2. Tổng giá trị tài sản mà B, Đ, T1 chiếm đoạt là 4.600.000 đồng. Như vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Cướp tài sản", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d, e Khoản 2, Điều 168 Bộ luật hình sự. Vì vậy bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu cho trật tự an toàn xã hội ở địa phương, xâm phạm pháp luật hình sự, các bị cáo nhận thức được tài sản hợp pháp của người khác luôn được pháp luật bảo vệ nhưng do muốn có phương tiện liên lạc, tiền tiêu sài mà không phải bỏ ra công sức lao động nên các bị cáo đã có hành vi chiếm đoạt tài sản một cách trái pháp luật của người khác, lỗi của các bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp nên cần xử phạt các bị cáo tương xứng với mức độ, hành vi của các bị cáo gây ra, đủ để răn đe, giáo dục các bị cáo, phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4]. Xét tính chất, vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thì thấy:

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có người đứng ra tổ chức hay có sự phân công chuẩn bị từ trước và không có sự bàn bạc, câu kết chặt chẽ với nhau nên không có yếu tố tổ chức.

Bị cáo Quàng Văn B có vai trò chính trong vụ án, là người nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản gồm 01 Iphone XS Max, màu đen và số tiền 100.000 đồng của bị hại H2 và trực tiếp thực hiện việc cướp tài sản nên khi cá thể hóa trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo phải tương xứng với vai trò, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà các bị cáo đã tham gia trong vụ án.

* Về nhân thân và tình tiết tăng nặng TNHS: Các bị cáo đều là người có nhân thân tốt và không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

* Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Sau khi phạm tội các bị cáo đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đầu thú; quá trình điều tra, truy tố thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Ngoài ra, bị cáo T1 có ông nội được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng nhất; bị cáo B có ông nội được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì, bị cáo Đ có ông nội được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba nên các bị cáo được hưởng 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, K, Khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo B, T1 khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng Chương XII của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

[5].Về hình phạt bổ sung: Lẽ ra, ngoài hình phạt chính cần phạt các bị cáo một khoản tiền sung công quỹ Nhà nước mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, nhưng xét thấy các bị cáo là lao động tự do, không có tài sản tích luỹ và thu nhập ổn định; các bị cáo B và bị cáo T1 là người chưa thành niên nên miễn hình phạt tiền cho các bị cáo như lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tại phiên tòa là phù hợp.

[6]. Về xử lý vật chứng và tài sản liên quan:

  • - Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu đen, số máy: MT5W2LL/A, số seri: FFWXJ7DJKPHD, số IMEI 1: 357264095525193, số IMEI 2: 357264095118536 và số tiền 100.000 đồng là tài sản mà anh Giàng Mạnh H2 bị chiếm đoạt. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đã tiến hành trả lại cho anh H2 theo quy định là phù hợp.
  • - Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu trắng vàng, mặt kính trước bị dập vỡ, số máy: MNFR2LL/A, số seri: F2LST4S3HFXY, số IMEI: 353817082975954 là công cụ các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • - Đối với 01 con dao nhọn dài 18,5cm, chuôi cầm dao bằng nhựa màu vàng cam dài 10cm, lưỡi dao bằng kim loại có đầu nhọn màu trắng bạc dài 8,5cm; 01 chiếc điếu cày bằng ống tre màu vàng, có chiều dài 56cm, hình trụ tròn đường kính 04cm, có nõ điếu bằng kim loại màu trắng bạc; 01 chiếc chiếu màu xanh đỏ vàng, kích thước 1,8mx1,5m là công cụ các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhưng ít giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Anh Giàng Mạnh H2 đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q trả lại tài sản bị chiếm đoạt theo quy định, anh H2 đã nhận lại tài sản và đến nay không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

[8]. Liên quan trong vụ án này còn có:

  • - Đối với hành vi dùng tay chân đấm đá gây thương tích cho anh Giàng Mạnh H2. Anh H2 chỉ bị thương tích nhẹ, không ảnh hưởng đến sức khoẻ nên anh H2 không đi khám, điều trị và từ chối giám định thương tích. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q không xem xét là phù hợp.
  • - Đối với Lò Thị Kim L1, khi xảy ra vụ án trên L1 có hành vi dùng tay đánh gây thương tích cho bị hại Giàng Mạnh H2, mặc dù không trực tiếp tham gia chiếm đoạt tài sản của anh H2 cùng với mọi người, khi anh H2 bị mọi người đánh gây thương tích, đe doạ sau đó chiếm đoạt tài sản thì L1 đều có mặt chứng kiến nhưng không có hành động can ngăn mọi người. Vì vậy, xác định L1 là đồng phạm về hành vi Cướp tài sản, với vai trò là người giúp sức. Tuy nhiên, thời điểm khi xảy ra vụ án trên, Lê C đủ 14 tuổi, căn cứ khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q xác định Lò Thị Kim L1 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự là phù hợp.
  • - Đối với Nguyễn Tiến T6, Nguyễn Lam T7 (là người T6 rủ đi cùng đến để đánh anh H2), nhưng cả hai không biết, không tham gia và không được hưởng lợi ích gì về việc chiếm đoạt tài sản của các bị can B, T1, Đ. Khi đến phòng trọ, Nguyễn Lam T7 là người trực tiếp có hành vi dùng chân, tay đánh gây thương tích cho anh H2, còn Nguyễn Tiến T6 mặc dù không trực tiếp tham gia đánh anh H2 nhưng có lời nói kích động, thúc đẩy những người khác tham gia đánh anh H2. Tuy nhiên, quá trình điều tra bị hại Giàng Mạnh H2 kiên quyết xin từ chối giám định thương tích và cũng không yêu cầu ai phải bồi thường gì về thương tích của bản thân. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đã xử phạt vi phạm hành chính đối với T6 và T7 về hành vi gây thương tích theo điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ là phù hợp.
  • - Đối với Hoàng Trọng P được T1 2006 mời sang ăn cơm, uống rượu và được B nhờ quay lại cảnh anh H2 xin lỗi các bị can. P không tham gia đánh, chiếm đoạt tài sản của anh H2 cũng không có lời nói gì nên không xem xét về hành vi đồng phạm của P. Thời điểm khi xảy ra vụ án trên P chưa đủ 16 tuổi nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q không xử lý P về hành vi không tố giác tội phạm là phù hợp.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Quàng Văn B, Quàng Văn Đ, Bùi Văn T1 phạm tội “Cướp tài sản”.
  2. Về hình phạt:

    Áp dụng điểm d, e Khoản 2, Điều 168; điểm b, s, K, Khoản 2, Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Xử phạt: Quàng Văn B 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/6/2024. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

    Áp dụng điểm d, e Khoản 2, Điều 168; điểm b, s, K, Khoản 2, Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Xử phạt: Quàng Văn Đ 07 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/6/2024. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

    Áp dụng điểm d, e Khoản 2, Điều 168; điểm b, s, K, Khoản 2, Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Xử phạt: Bùi Văn T1 05 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/6/2024. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

  3. Về xử lý vật chứng:

    Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    • - Tịch thu tiêu huỷ 01 con dao nhọn dài 18,5cm, chuôi cầm dao bằng nhựa màu vàng cam dài 10cm, lưỡi dao bằng kim loại có đầu nhọn màu trắng bạc dài 8,5cm; 01 chiếc điếu cày bằng ống tre màu vàng, có chiều dài 56cm, hình trụ tròn đường kính 04cm, có nõ điếu bằng kim loại màu trắng bạc và 01 chiếc chiếu màu xanh đỏ vàng, kích thước 1,8mx1,5m.
    • - Sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu trắng vàng, mặt kính trước bị dập vỡ, số máy: MNFR2LL/A, số seri: F2LST4S3HFXY, số IMEI: 353817082975954.

    (Vật chứng hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 01 ngày 01/10/2024 giữa Công an thị xã Quế Võ và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ).

  4. Về án phí:

    Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

    Các bị cáo B, Đ, T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKS, CA,THADS thị xã Quế Võ;
  • - VKS, Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo và người tham gia tố tụng khác;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Ninh
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Thu Thảo

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Nam

Nguyễn Thị Phú

Nguyễn Thị Thu Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về cướp tài sản

  • Số bản án: 11/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cướp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger