|
Ngày: 26/9/2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG |
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Vĩnh Lộc
Các Hội thẩm nhân dân:
- ông Võ Thành Nhân
- bà Nguyễn Thị Ngọc Đào
Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thoảng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên toà:
bà Nguyễn Thị Đoan Trang – Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 12/2024/TLST-KDTM ngày 26 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXX - DS ngày 19 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần P
Địa chỉ: B bis N, phường B, quận A, TP ..
Đại diện theo pháp luật: ông Phạm Quốc T – Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền:
- ông Đinh Văn T1 – chuyên viên ngân hàng
- ông Trần Công C – chuyên viên quan hệ khách hàng
Địa chỉ: B Ấp B, phường E, TP ., tỉnh Tiền Giang
Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn T4
Địa chỉ: C ấp D, xã Đ, TP ., tỉnh Tiền Giang
Đại diện theo pháp luật: ông Hồ Thanh T2 – giám đốc
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- ông Hồ Thanh T2, sinh năm 1972
- bà Nguyễn Song Thục O, sinh năm 1971
- bà Nguyễn Song Thục U, sinh năm 1972
Địa chỉ: 87 Ấp Bắc, phường 4, TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang
Địa chỉ: 101 Nguyễn Trãi, phường 7, TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang
Địa chỉ: A N, phường G, TP ., tỉnh Tiền Giang
Ông T1 có mặt;
Các đương sự khác vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Tại đơn khởi kiện ngày 13 tháng 6 năm 2024 của Ngân hàng thương mại cổ phần Phát triển thành phố P và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa ông Đinh Văn T1 là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng thương mại cổ phần Phát triển thành phố P (sau đây gọi tắt là ngân hàng) có ký với công ty trách nhiệm hữu hạn T4 (sau đây gọi tắt là công ty T4) hợp đồng tín dụng sau:
- Hợp đồng tín dụng hạn mức số: 1221/23MN/HĐTD ngày 16/01/2023,
- Hợp đồng tín dụng hạn mức số: 39017/21MN/HĐTD ngày 09/11/2021
Số tiền cho vay: 6.000.000.000.000 đồng.
Mục đích vay vốn: Bổ sung vốn lưu động phục vụ cho hoạt động xây dựng, công trình dân dụng
Phương thức trả: Gốc + lãi trả theo từng kỳ theo khế ước nhận nợ
Thời hạn vay: 06 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân.
Lãi suất cho vay cố định hoặc điều chính và lãi phạt được quy định cụ thể trong khế ước nhận nợ.
Để đảm bảo cho khoản vay của các hợp đồng tín dụng nêu trên, công ty T4 đã thế chấp các tài sản sau:
- Nhà đất tại số A N, phường G, TP ., tỉnh Tiền Giang tại thửa đất số 171 tờ bản đồ số 9 diện tích 113,85 m² theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 9667 do Ủy ban nhân dân tỉnh T cấp ngày 06/7/2001 cho bà Nguyễn Song Thục O;
- Nhà đất tại số A N, phường G, TP ., tỉnh Tiền Giang tại thửa đất số 520 tờ bản đồ số 9 diện tích 75,0 m² theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số B-304/2008/QĐ-UB.GCN do Ủy ban nhân dân thành phố M cấp ngày 11/12/2008 cho bà Nguyễn Song Thục U;
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, mặc dù Ngân hàng nhiều lần đôn đốc, yêu cầu công ty T4 trả nợ nhưng Công ty vẫn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng. Tính đến ngày 25/9/2024, tổng số tiền mà Công ty T4 còn nợ Ngân hàng theo các Hợp đồng tín dụng là:
- - Nợ gốc: 5.999.999.657 đồng
- - Nợ lãi trong hạn: 36.052.247 đồng
- - Nợ lãi quá hạn: 1.363.037.430 đồng
Tổng dư nợ : 7.399.089.334 đồng
Nay Ngân hàng yêu cầu giải quyết:
Ngân hàng TMCP P1 kính đề nghị Quý Tòa giải quyết những vấn đề sau đây đối với Công ty T4:
-
Buộc Công ty T4 phải thanh toán một lần toàn bộ nợ gốc và lãi cho H theo hợp đồng tín dụng nêu trên với tổng số tiền là: 7.399.089.334 đồng. Trong đó:
- - Nợ gốc: 5.999.999.657 đồng
- - Nợ lãi trong hạn: 36.052.247 đồng
- - Nợ lãi quá hạn: 1.363.037.430 đồng.
-
Buộc Công ty T4 phải thanh toán phần nợ lãi phát sinh đối với số nợ còn lại theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ đã ký kết với H sau ngày 25/9/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
-
Trường hợp Công ty T4 không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho H, đề nghị Quý Tòa cho Ngân hàng yêu cầu các Cơ quan chức năng có thẩm quyền phát mãi tài sản đã thế chấp tại H, toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản đảm bảo được dùng để cấn trừ nghĩa vụ trả nợ của công ty đối với Ngân hàng. Nếu số tiền phát mãi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ của công ty T4 thì ông Hồ Thanh T2, bà Nguyễn Song Thục O phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ.
- Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử, Toà án đã tiến hành triệu tập công ty T4, ông Hồ Thanh T2, bà Nguyễn Song Thục O, bà Nguyễn Song Thục U đến Toà để tham gia phiên họp, phiên hoà giải và phiên tòa nhưng các đương sự đều vắng mặt không có lý do cũng không cung cấp chứng cứ hoặc có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho phát biểu quan điểm
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng quy định pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Về sự vắng mặt của đương sự: Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng công ty T4, ông Hồ Thanh T2, bà Nguyễn Song Thục O, bà Nguyễn Song Thục U vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Ngân hàng yêu cầu công ty T4 trả số tiền nợ vay và xử lý tài sản thế chấp, nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại xã Đ, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
[3] Ngân hàng khởi kiện yêu cầu công ty T4 trả tiền nợ gốc và tiền lãi. Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là các Hợp đồng tín dụng hạn mức số: 1221/23MN/HĐTD ngày 16/01/2023, Hợp đồng tín dụng hạn mức số: 39017/21MN/HĐTD ngày 09/11/2021 cùng các khế ước nhận nợ có chữ ký ông Hồ Thanh T2 là người đại diện theo pháp luật của công ty T4 và được đóng con dấu doanh nghiệp. Có đủ cơ sở xác định giữa Ngân hàng và công ty T4 đã giao kết với nhau hợp đồng tín dụng theo quy định tại Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng
[4] Quá trình thu thập chứng cứ, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho công ty T4 tuy nhiên đại diện của công ty không đến tham dự phiên tòa và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của Ngân hàng. Căn cứ Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, công ty T4 phải chịu hậu quả của việc không chứng minh. Do đó Hội đồng xét xử xác định công ty T4 còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc tính đến ngày 25/9/2024 theo các hợp đồng tín dụng là 5.999.999.657 đồng
[5] Theo quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự thì: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”. Xét thấy công ty T4 đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền, do đó Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên, chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng, buộc công ty T4 trả cho Ngân hàng số tiền gốc tính đến ngày 25/9/2024 là 5.999.999.657 đồng
[6] Xét yêu cầu trả tiền lãi: Ngân hàng yêu cầu công ty trả tiền lãi trong hạn là 36.052.247 đồng, tiền nợ lãi quá hạn là 1.363.037.430 đồng. Xét thấy Ngân hàng yêu cầu công ty T4 trả tiền lãi là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 8 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Kể từ ngày 26/9/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ thì công ty T4 vẫn phải tiếp tục trả lãi theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng hạn mức số: 1221/23MN/HĐTD ngày 16/01/2023, Hợp đồng tín dụng hạn mức số: 39017/21MN/HĐTD ngày 09/11/2021 cùng các khế ước nhận nợ.
[8] Ngày 09/11/2021, ông Hồ Thanh T2 và ngân hàng ký kết với nhau Văn bản cam kết bảo lãnh với nội dung ông T2 sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay để đảm bảo cho toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của công ty T4 đối với ngân hàng.
[9] Ngày 09/11/2021, bà Nguyễn Song Thục O và ngân hàng ký kết với nhau Văn bản cam kết bảo lãnh với nội dung bà O sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay để đảm bảo cho toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của công ty T4 đối với ngân hàng.
[10] Ngày 09/11/2021, bà Nguyễn Song Thục O (bên thế chấp) và ngân hàng (bên nhận thế chấp) ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản số 24642/21MN/HĐBĐ với nội dung: bà O thế chấp tài sản là quyền sử dụng diện tích 113,85 m² đất thuộc thửa số 171, tờ bản đồ số 9 và và căn nhà ở trên đất cùng tọa lạc tại A N, phường G, thành phố M, tỉnh Tiền Giang để bảo đảm thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của công ty T4 theo Hợp đồng tín dụng số 39017/21MN/HĐTD ngày 09/11/2021 và các hợp đồng cấp tín dụng khác được ký giữa bên vay là công ty T4 đối với ngân hàng.
[11] Ngày 09/11/2021, bà Nguyễn Song Thục U (bên thế chấp) và ngân hàng (bên nhận thế chấp) ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản số 24643/21MN/HĐBĐ với nội dung: bà U thế chấp tài sản là quyền sử dụng diện tích 75 m² đất thuộc thửa số 520, tờ bản đồ số 9 và và căn nhà ở trên đất cùng tọa lạc tại A N, phường G, thành phố M, tỉnh Tiền Giang để bảo đảm thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của công ty T4 theo Hợp đồng tín dụng số 39017/21MN/HĐTD ngày 09/11/2021 và các hợp đồng cấp tín dụng khác được ký giữa bên vay là công ty T4 đối với ngân hàng.
[12] Theo thỏa thuận tại Hợp đồng thế chấp tài sản, tuy không nói đến việc bảo lãnh nhưng bản chất của hợp đồng này là bà O và bà U chỉ là người thế chấp tài sản để bảo lãnh cho nghĩa vụ của công ty T4 phát sinh với Ngân hàng theo quy định tại khoản 3 Điều 336 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[13] Như vậy, nghĩa vụ trả nợ của công ty T4 đều được bảo đảm bởi các nghĩa vụ bảo lãnh của ông Hồ Thanh T3, bà Nguyễn Song Thục O, bà Nguyễn Song Thục U đối với bên nhận bảo lãnh là ngân hàng. Điều 342 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đó”. Do đó, trong trường hợp đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà công ty T4 không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì ông T2, bà O, bà U phải trả nợ thay cho công ty T4; trong trường hợp ông T2, bà O, bà U không trả được nợ cho ngân hàng thì ngân hàng được yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là nhà, đất của bà O, bà U để thu hồi nợ.
[14] Về chi phí tố tụng khác: Chi phí cho việc xem xét thẩm định tại chỗ là 2.000.000 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên công ty T4 phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng theo quy định tại Điều 157, Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ngân hàng đã nộp tạm ứng số tiền 2.000.000 đồng nên công ty T4 có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng số tiền 2.000.000 đồng chi phí tố tụng khác.
[15] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[16] Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 336, Điều 342 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố P. Buộc công ty trách nhiệm hữu hạn T4 trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố P số tiền:
- - Nợ gốc là 5.999.999.657 đồng (Năm tỷ chín trăm chín mươi chín triệu chín trăm chín mươi chín nghìn sáu trăm năm mươi bảy đồng);
- - Tiền lãi trong hạn là 36.052.247 đồng (Ba mươi sáu triệu không trăm năm mươi hai nghìn hai trăm bốn mươi bảy đồng);
- - Tiền lãi quá hạn là 1.363.037.430 đồng (Một tỷ ba trăm sáu mươi ba triệu không trăm ba mươi bảy nghìn bốn trăm ba mươi đồng).
-
Kể từ ngày 25/9/2024 cho đến khi thi hành án xong, công ty trách nhiệm hữu hạn T4 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng hạn mức số: 1221/23MN/HĐTD ngày 16/01/2023, Hợp đồng tín dụng hạn mức số: 39017/21MN/HĐTD ngày 09/11/2021 cùng các khế ước nhận nợ.
-
Trường hợp công ty trách nhiệm hữu hạn T4 không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì ông Hồ Thanh T2, bà Nguyễn Song Thục O, bà Nguyễn Song Thục U phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố P số tiền nợ mà công ty trách nhiệm hữu hạn T4 không thanh toán.
-
Trường hợp ông Hồ Thanh T2, bà Nguyễn Song Thục O, bà Nguyễn Song Thục U không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố P có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 24642/21MN/HĐBĐ ngày 09/11/2019 và Hợp đồng thế chấp tài sản số 24643/21MN/HĐBĐ ngày 09/11/2019 để thu hồi nợ.
-
Chi phí tố tụng: Công ty trách nhiệm hữu hạn T4 có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố P số tiền 2.000.000 đồng chi phí tố tụng.
-
Về án phí:
Công ty trách nhiệm hữu hạn T4 phải chịu tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 115.400.000 đồng.
Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố P được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 57.549.000 đồng theo biên lai thu tiền số 6340 ngày 26 tháng 6 năm 2020 của Cơ quan thi hành án dân sự thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
-
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Vĩnh Lộc |
Bản án số 12/2024/TLST-KDTM ngày 26/09/2024 của Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 12/2024/TLST-KDTM
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
