Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN KIÊN HẢI

TỈNH KIÊN GIANG

Độc lập – Tự do – hạnh Phúc

Bản án số:11/2024/HSST

Ngày: 11/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN HẢI – TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa: Ông Trương Thanh Toàn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Việt Hồng.
  2. Ông Huỳnh Quốc Việt.

Thư ký phiên Tòa: Ông Nguyễn Viết Hạnh– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Hải tham gia phiên Tòa: Bà Nguyễn Nhã Phi - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lâm Thị Ngọc L, sinh năm: 1999; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKTT: Tổ I, ấp B, xã A, huyện K, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở hiện nay: Tổ I, ấp B, xã A, huyện K, tỉnh Kiên Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Nhân viên bưu điện. Con ông: Lâm Văn L1 và bà Nguyễn Thị V; anh chị em ruột có 02 người, lớn nhất sinh năm 1999 (Bị cáo), nhỏ nhất sinh năm 2003; Bị cáo có chồng; Con có 02 người, lớn nhất sinh năm 2020, nhỏ nhất sinh năm 2022.

Tiền sự; tiền án: Chưa.

Bị cáo được tại ngoại. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Người bị hại:

Bưu điện tỉnh Kiên Giang - Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn L2; Giám đốc.

Đại diện theo uỷ quyền: Ông Đinh Ngọc T; chức vụ: Phó giám đốc phụ trách Bưu điện huyện K, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp I, xã H, huyện K, tỉnh Kiên Giang.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Huỳnh Đình V1, sinh năm 1994 (Vắng mặt).
  2. Địa chỉ: Ấp C, xã A, huyện K tỉnh Kiên Giang.

  3. Chị Nguyễn Thanh H, sinh năm 1996 (Vắng mặt).
  4. Địa chỉ: Ấp C, xã A, huyện K tỉnh Kiên Giang.

  5. Chị Lâm Thị Hạnh Đ, sinh năm 1994 (Vắng mặt).
  6. Địa chỉ: Ấp C, xã A, huyện K tỉnh Kiên Giang.

  7. Bà Huỳnh Thị L3, sinh năm 1971 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  8. Địa chỉ: Ấp C, xã A, huyện K, tỉnh Kiên Giang.

  9. Chị Trịnh Mỹ U, sinh năm 1996 (Vắng mặt).
  10. Địa chỉ: Số B L, khóm B, phường A, thành phố H tỉnh Đồng Tháp.

  11. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1991 (Vắng mặt).
  12. Địa chỉ: Tổ D, ấp C, xã A, huyện K tỉnh Kiên Giang.

Người làm chứng.

Chị Trần Thị Ngọc Q, sinh năm 2004 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp B, xã A, huyện K tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lâm Thị Ngọc L là giao dịch viên tại Bưu cục xã A, huyện K, tỉnh Kiên Giang theo Hợp đồng thuê khoán công việc số: 518/HĐTK-BĐKG ngày 15/10/2023, có hiệu lực từ ngày 15/10/2023 đến hết ngày 30/9/2024 được ký kết giữa Lâm Thị Ngọc L và Giám đốc Bưu điện tỉnh K. Theo đó, Lâm Thị Ngọc L được giao nhiệm vụ thực hiện giao dịch với khách hàng, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ Bưu chính, khai thác bưu gửi sau đó bàn giao cho nhân viên phát bưu phẩm của xã đi phát và quản lý ... tại Bưu cục xã A.

Ngày 08/12/2023 bị cáo Lâm Thị Ngọc L nhận hàng Bưu gửi (hay còn gọi là bưu phẩm, đơn hàng) từ Bưu Điện tỉnh Kiên Giang gửi ra bằng đường tàu. Sau khi nhận hàng xong L check mã vạch bưu gửi trên hệ thống. L phát hiện Bưu gửi EC980309813VN có giá trị cao thu hộ là 4.265.000 đồng, người phát xã là nhân viên Huỳnh Đình V1, người nhận là Nguyễn Thị N tên đặt hàng trên mạng Facebook “Quỳnh Anh Thái” ở ấp C, xã A, huyện K. Lúc này Lâm Thị Ngọc L nảy sinh ý định chiếm đoạt Bưu gửi EC980309813VN, do biết Huỳnh Đình V1 thường không kiểm tra số lượng, mã vạch nếu chiếm đoạt thì Văn khó phát hiện. Nên Lâm Thị ngọc L lấy Bưu gửi EC980309813VN bỏ vào trong tủ cá nhân tại Bưu cục, đến chiều ngày 08/12/2023 Huỳnh Đình V1 xuống B xã A nhận bưu gửi để đi giao cho khách hàng, Huỳnh Đình V1 ký nhận danh sách 34 bưu gửi từ Lâm Thị Ngọc L và không phát hiện thiếu bưu gửi. Huỳnh Đình V1 ký giao nhận xong thì đem Bưu gửi để trong kho và đi ra về. Không bị phát hiện nên L đem bưu phẩm EC980309813VN về nhà, L mở ra xem thì thấy bên trong là 01 sợi dây chuyền vàng 18k, dạng xoắn có biên lai ghi T1 vàng Kim T2, có ghi số tiền 4.230.000 đồng, ship 30.000 đồng, tổng thu là 4.265.000 đồng.

Đến ngày 22/12/2023 Lâm Thị Ngọc L kiểm tra B gửi từ Bưu Điện tỉnh Kiên Giang gửi ra, L phát hiện Bưu phẩm ED983447819VN trị giá 1.767.000 đồng người phát xã là nhân viên Nguyễn Thanh H người nhận là Nguyễn Thị N tên đặt hàng trên mạng Facebook “Quỳnh Anh T3”. L lợi dụng việc H ký nhận hàng không đối chiếu mã vạch, nên L nảy sinh ý định chiếm đoạt bưu phẩm ED983447819VN, L lấy thư căn cước công dân RC[...]VN thay thế cho bưu phẩm ED983447819VN nhằm không cho Nguyễn Thanh H phát hiện. Khoảng chiều ngày 22/12/2023 H xuống nhận tất cả là 40 bưu phẩm nhưng chỉ đếm đủ số lượng rồi ký nhận, mà không đối chiếu mã vạch, nên H không phát hiện Bưu phẩm ED983447819VN đã bị tráo đổi và đem bưu phẩm về. L đem Bưu phẩm ED983447819VN về nhà, L mở ra xem là đôi bông tai bằng vàng 18k, biên lai ghi Tiệm V2, số tiền 1.732.000 đồng, ship 35.000 đồng, tổng thu là 1.767.000 đồng L đem cất trong nhà.

Đến ngày 24/12/2023 L đem cầm sợi dây chuyền vàng mà L chiếm đoạt được đến tiệm Hoàng L4 cầm với giá 2.000.000 đồng để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Ngày 26/12/2023 L đến tiệm H1 chuộc lại sợi dây chuyền mà L đã cầm đem về nhà.

Đến sáng ngày 29/12/2023 không có tiền tiêu xài L mượn chiếc nhẫn của em mình là Lâm Vũ L5. L đem đôi Bông tai và chiếc nhẫn đến tiệm Hoàng L4 cầm với giá 4.000.000 đồng để lấy tiền xoay sở trong gia đình. Khoảng 15 giờ ngày 29/12/2023 L nhờ Trần Thị Ngọc Q chạy xe máy chở L đến tiệm T5 ở ấp C, xã A, huyện K, L nhờ Q vào tiệm Tùng Đ1 cầm dùm mình sợi dây chuyền với giá 2.000.000 đồng để lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Lợi dụng sơ hở của nhân viên phát xã là Huỳnh Đình V1 và Nguyễn Thanh H, Lâm Thị Ngọc L đã chiếm đoạt tài sản là bưu phẩm do mình quản lý một cách trót lọt. Dẫn đến nhân viên phát xã nhằm tưởng bản thân làm mất bưu phẩm nên Huỳnh Đình V1 và Nguyễn Thanh H tự nộp tiền phát bưu phẩm về Bưu cục (H gửi tiền phát bưu phẩm cho L để L chuyển về Bưu cục huyện K, riêng V1 gửi tiền phát cho Bưu cục huyện K khi bàn giao do V1 nghỉ việc). Đến ngày 02/01/2024 ông Huỳnh Đình V1 phát hiện sợi dây chuyền là bưu phẩm EC980309813VN bị mất được L cầm tại tiệm Tùng Đ1 nên trình báo sự việc với Công an xã A, sau đó Công an xã A mời L và những người có liên quan để làm rỏ vụ việc.

Tại Cơ quan Công an, Lâm Thị Ngọc L đã thừa nhận hành vi lợi dụng nhiệm vụ được giao thông qua hợp đồng khoán ký với Bưu điện tỉnh K, theo đó L là giao dịch viên có trách nhiệm quản lý bưu gửi và thực hiện các dịch vụ tại Bưu cực xã A. Trong thời gian chờ nhân viên phát xã là Huỳnh Đình V1 và Nguyễn Thanh H đến nhận bưu gửi để phát cho khách hàng, vì động cơ vụ lợi Lâm Thị Ngọc L đã chiếm đoạt bưu gửi EC980309813VN giá trị giao dịch là 4.265.000 đồng và bưu gửi ED983447819VN giá trị giao dịch 1.767.000 đồng do mình quản lý. Khách hàng Nguyễn Thị N do chưa nhận được bưu phẩm nên có đơn yêu cầu giải quyết đơn hàng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 03/ÐG-HDĐG ngày 25/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện K kết luận:

  • 01 (một) sợi dây chuyền đã qua sử dụng, trọng lượng 1 chỉ (một chỉ), kiểu dây xoắn, bằng vàng 18K (tuổi vàng 61,9) là 4.100.000 đồng (Bốn triệu một trăm ngàn đồng).
  • 01 (một) đôi bông tai đã qua sử dụng, trọng lượng 3,9 phân (ba phân chín ly), hình trái tim, bằng vàng 18K (tuổi vàng 61,9) là 1.599.000 đồng (Một triệu năm trăm chín mươi chín ngàn đồng).
  • 01 (một) chiếc nhẫn đã qua sử dụng, trọng lượng 8,3 phân (tám phân ba ly), đính hột màu trắng, bằng vàng 18K (tuổi vàng 61,9) là 3.403.000 đồng (Ba triệu bốn trăm lẻ ba ngàn đồng).

Tổng giá trị tài sản được định giá nêu trên là: 9.102.000 đồng (chín triệu một trăm lẻ hai ngàn đồng).

- Vật chứng thu giữ trong vụ án: 01 (một) đôi bông tai đã qua sử dụng, trọng lượng 3,9 phân (ba phân chín ly), hình trái tim, bằng vàng 18K (tuổi vàng 61,9); 01 (một) chiếc nhẫn đã qua sử dụng, trọng lượng 8,3 phân (tám phân ba ly), đính hột màu trắng, bằng vàng 18K (tuổi vàng 61,9) do Huỳnh Thị L3 giao nộp. 01 (một) sợi dây chuyền đã qua sử dụng, trọng lượng 1 chỉ (một chỉ), kiểu dây xoắn, bằng vàng 18K (tuổi vàng 61,9) do Lâm Thị Hạnh Đ giao nộp.

- Về trách nhiệm dân sự: Phía bị hại đã nhận lại tài sản, nên không yêu cầu gì thêm. Bị cáo Lâm Thị Ngọc L đã trả lại cho Huỳnh Đình V1 khắc phục hậu quả số tiền 4.265.000 đồng, trả lại Nguyễn Thanh H khắc phục hậu quả số tiền 1.767.000 đồng. Lâm Thị Ngọc L đã trả lại cho tiệm H1 số tiền cầm 01 đôi bông tai và 01 chiếc nhẫn là 4.000.000 đồng, trả lại cho tiệm T4 Đào số tiền cầm 01 sợi dây chuyền là 2.000.000 đồng. Nguyễn Thị N nhận được đơn hàng của mình nên không yêu cầu gì thêm.

Tại bản cáo trạng số: 13/CT – VKS - KH, ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Lâm Thị Ngọc L về tội “ Tham ô tài sản”, theo khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay: Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại Tòa, sau khi phân tích tính chất mức độ, hậu quả mà hành vi của các bị cáo đã gây ra. Đại diện Viện kiểm sát đã giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố về tội danh cũng như điều luật đã áp dụng.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 353, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Mức án đề nghị xử phạt bị cáo Lâm Thị Ngọc L từ 12 tháng đến 18 tháng tù.

Về vật chứng: Trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K đã áp dụng khoản 1, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại toàn bộ tài sản trên cho chủ sở hữu nên không xem xét.

Về Trách nhiệm dân sự: Không.

Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo giống như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên Tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo Lâm Thị Ngọc L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng và các tài liệu chứng cứ cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ của vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định bị cáo Lâm Thị Ngọc L phạm tội "Tham ô tài sản" theo khoản 1 Điều 353 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Hải truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo Lâm Thị Ngọc L là giao dịch viên tại Bưu cục xã A, huyện K, tỉnh Kiên Giang theo Hợp đồng thuê khoán công việc số 518/HĐTK-BĐKG ngày 15/10/2023, có hiệu lực từ ngày 15/10/2023 đến hết ngày 30/9/2024 được ký kết giữa Lâm Thị Ngọc L và Giám đốc Bưu điện tỉnh K. Theo đó, bị cáo Lâm Thị Ngọc L được giao nhiệm vụ thực hiện giao dịch với khách hàng, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ Bưu chính ... tại Bưu cục xã A. Ngày 08/12/2023 bị cáo Lâm Thị Ngọc L chiếm đoạt bưu gửi EC980309813VN có giá trị là 4.265.000đ (là 01 sợi dây chuyền đã qua sử dụng, trọng lượng 01 chỉ, kiểu dây xoắn, bằng vàng 18K (tuổi vàng 61,9) qua định giá có giá là 4.100.000 đồng). Đến ngày 22/12/2023 bị cáo Lâm Thị Ngọc L chiếm đoạt bưu gửi ED983447819VN có giá trị là 1.767.000₫ (là 01 đôi bông tai đã qua sử dụng, trọng lượng 3,9 phân (ba phân chín ly), hình trái tim, bằng vàng 18K (tuổi vàng 61,9) qua định giá có giá là 1.599.000 đồng). Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 6.032.000 đồng, theo định giá có giá trị bằng 5.699.000 đồng.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo L thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, bị cáo đã lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình, bị cáo là người được giao nhiệm vụ, có trách nhiệm trực tiếp quản lý các bưu phẩm hàng và giao lại cho các nhân viên phát bưu phẩm để họ giao lại cho khách hàng, bị cáo đã cố tình làm giả thông tin, cũng như lợi dụng niềm tin của những nhân viên phát bưu phẩm gian đối để nhằm chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý. Bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cơ quan Bưu điện một cách trái pháp luật. Do đó cần phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.

[3] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường thiệt hại khắc phục hậu, tại phiên tòa đại diện phía bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là những tính tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả lại toàn bộ tài sản trên cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về Trách nhiệm dân sự: Phía bị hại đã nhận lại tài sản, nên không yêu cầu gì thêm. Bị cáo Lâm Thị Ngọc L đã trả lại cho Huỳnh Đình V1 số tiền 4.265.000 đồng, trả lại Nguyễn Thanh H số tiền 1.767.000 đồng. Lâm Thị Ngọc L đã trả lại cho tiệm H1 số tiền cầm 01 đôi bông tai và 01 chiếc nhẫn là 4.000.000 đồng, trả lại cho tiệm T4 Đào số tiền cầm 01 sợi dây chuyền là 2.000.000 đồng. Nguyễn Thị N nhận được đơn hàng của mình nên không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Lâm Thị Ngọc L phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Lâm Thị Ngọc L phạm tội "Tham ô tài sản".

- Áp dụng khoản 1 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

  1. Xử phạt: Bị cáo Lâm Thị Ngọc L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành hình phạt.
  2. Về tang vật vụ án: Đã trả lại toàn bộ tài sản trên cho chủ sở hữu, nên Hội đồng xét xử miễn xét.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Phía bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm. Nên Hội đồng xét xử không xem xét
  4. Về án phí Hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lâm Thị Ngọc L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Nơi nhận:

  • - Toà án tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND tỉnh Kiên Giang
  • - VKSND huyện Kiên Hải;
  • - Nhà tạm giữ - CA Kiên Hải;
  • - Sở tư pháp.
  • - Bị cáo; Bị hại
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thanh Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/HSST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN HẢI – TỈNH KIÊN GIANG về tham ô tài sản

  • Số bản án: 11/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN HẢI – TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lâm Thị Ngọc Linh - Tham Ô tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger