Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2024/DS-ST

Ngày 06/9/2024

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất,

tranh chấp lối đi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Hồng Mây

Các hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Thanh Hải và bà Hà Thị Dung

- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Minh Hải - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lê Ngọc Kim Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 07/2024/TLST - DS ngày 01/7/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2024 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp lối đi, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Diệp Văn C, sinh năm 1968;
  2. Người đại diện theo ủy quyền của ông C: Anh Diệp Văn H, sinh năm 1987;

    Địa chỉ: Xóm C, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên - có mặt

  3. Bị đơn: Bà Diệp Thị X, sinh năm 1978 - có mặt
  4. Địa chỉ: Xóm C, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Anh Diệp Văn H, sinh năm 1987 - có mặt
    2. Bà Đỗ Thị B, sinh năm 1964 - có mặt
    3. Anh Diệp Văn H1, sinh năm 1992 - vắng mặt;
    4. Người đại diện theo ủy quyền là anh Diệp Văn H – có mặt

    5. Chị Lại Thị T, sinh năm 1998 - có mặt
    6. Ông Diệp Xuân T1, sinh năm 1966 – vắng mặt
    7. Bà Trần Thị N, sinh năm 1964 - vắng mặt
    8. Anh Lại Văn H2, sinh ngày 09/6/2007
    9. Người đại diện hợp pháp của anh H2: Bà Diệp Thị X, sinh năm 1978 (là mẹ đẻ của anh H2); anh H2 và bà X đều có mặt.

    Cùng địa chỉ: Xóm Cầu Mành, xã Bàn Đạt, huyện Phú Bình, tỉnh Thái nguyên

    3.9. Ông Lại Văn Đ, sinh năm 1975 (đã chết ngày 27/01/2023)

  6. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Lại Văn Đ:
    1. Bà Diệp Thị X, sinh năm 1978
    2. Chị Lại Thị T, sinh năm 1998
    3. Anh Lại Văn H2, sinh ngày 09/6/2007

    Cùng địa chỉ: Xóm C, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

    1. Chị Lại Thị H3, sinh năm 1999

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm N, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Hiện đang cư trú tại nước Philippines từ năm 2022.

    ( bà X, Anh H4, chị T có mặt, chị H3 vắng mặt).

  7. Người làm chứng:
    1. Bà Liểu Thị T2, sinh năm 1970 - Vắng mặt
    2. Anh Diệp Văn T3, sinh năm 1988 - Vắng mặt
    3. Anh Diệp Văn A, sinh năm 1988 - Vắng mặt;

Địa chỉ: Xóm C, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Diệp Văn H trình bày hai yêu cầu khởi kiện:

  1. Gia đình anh sử dụng thửa đất số 32, tờ bản đồ 422/2 diện tích 3.500m², mục đích sử dụng RTS (nay trên bản đồ là thửa đất số 86) từ năm 1989; UBND huyện P đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bố anh là Diệp Văn C (giấy viết nhầm tên là C2) có số S 172359 cấp ngày 02/10/2000. Gia đình anh đã sử dụng liên tục thửa đất từ đó đến nay vào mục đích trồng rừng. Năm 2011 gia đình anh phát hiện gia đình chị Diệp Thị Xuân M đất xuống ruộng lấn vào thửa đất trồng rừng của gia đình nên gia đình anh đã phải cắm cọc bê tông ở phần diện tích thửa đất của gia đình anh để không bị gia đình chị X lấn thêm. Sau khi cắm cọc bê tông gia đình anh đã kiện gia đình chị X đến UBND xã B, nhưng UBND xã giải quyết hòa giải nhiều lần không thành. Nay anh khẳng định trong quá trình sử dụng thửa đất gia đình chị X đã lấn sang khoảng 150m² của thửa đất rừng số 32 của gia đình anh nên anh yêu cầu gia đình chị X trả lại phần diện tích lấn chiếm.
  2. Anh khởi kiện gia đình chị X đang có hành vi cản trở trái phép việc gia đình anh sử dụng lối đi vào thửa đất rừng số 32. Nguồn gốc lối đi trên trước đây là đường mòn có một phần đất của gia đình ông T1, bà N, sau đó đến năm 2011 gia đình chị X thuê máy múc cải tạo, san phẳng lối đi. Gia đình anh vẫn thường xuyên sử dụng lối đi trên để vào việc vận chuyển khai thác gỗ tại thửa đất rừng số 32. Từ năm 2014 gia đình chị X cản trở, không cho gia đình anh sử dụng xe ô tô vào vận chuyển khai thác gỗ. Từ năm 2017-2019 nhà nước đã tiến hành đo đạc đất và xác định có thể hiện lối đi trên bản đồ, lối đi đó từ đường tàu vào thửa đất rừng số 32 (nay là 86) của gia đình anh. Nay anh yêu cầu Tòa án giải quyết buộc gia đình chị X không được cản trở gia đình anh sử dụng lối đi chung.

Tài liệu kèm theo đơn khởi kiện là 01 bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất trên mang tên Diệp Văn C (viết nhầm tên là C2) số S 172359 cấp ngày 02/10/2000 và tài liệu hòa giải tại địa phương.

- Bị đơn bà Diệp Thị X trình bày: Về quan hệ gia đình, bố đẻ bà là ông Diệp Văn C1 là anh ruột ông Diệp Văn C nên bà gọi ông C là chú ruột. Bà và ông Lại Văn Đ kết hôn năm 1997 vợ chồng có 03 con chung là Lại Thị T, sinh năm 1998; Lại Thị H3, sinh năm 1999; Lại Văn H2, sinh năm 2007. Sau khi kết hôn hai vợ chồng bà chung sống cùng với mẹ đẻ bà được khoảng 3-4 năm, vào khoảng năm 2001 thì vợ chồng bà ra ăn, ở riêng trên thửa đất 176a, 176b (nay trên bản đồ là thửa đất số 83) do bố mẹ bà cho. Năm 2002 gia đình bà được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông (bà) Lại Văn Đ trong đó có thửa đất 176a, mục đích sử dụng: T (Đất ở), diện tích 300m², thửa đất 176b, mục đích sử dụng: Đất vườn tạp, diện tích 1172 m². Đầu năm 2023 ông Lại Văn Đ chết, đến nay trong hộ khẩu gia đình bà có bà và hai con là Lại Thị T, sinh năm 1998; Lại Văn H2, sinh năm 2007 hiện đang sinh sống trên hai thửa đất. Còn chị Lại Thị H3, sinh năm 1999 đã lấy chồng về địa chỉ: Xóm N, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, hiện đang sinh sống tại Philippines từ năm 2022 đến nay chưa về gia đình. Do chị H3 đi làm tự do bên đó nên gia đình bà không có địa chỉ cung cấp cho Tòa án, tuy nhiên gia đình bà vẫn thường xuyên liên lạc với chị H3 qua điện thoại, gia đình cũng đã thông tin cho chị H3 biết về nội dung nhà ông C khởi kiện, chị H3 có ý kiến là việc bị kiện do bà X đến Tòa án giải quyết chị H3 không có ý kiến gì đề nghị xử vắng mặt, theo yêu cầu của Tòa án bà đã thông tin cho chị H3 đầy đủ các nội dung Tòa án yêu cầu. Tòa án đã làm việc với bà Đàm Thị L là mẹ chồng chị H3 và giao các tài liệu tố tụng của Tòa án cho bà L, bà L cũng có ý kiến giống với bà X.

Nay ông C khởi kiện cho rằng gia đình bà sử dụng lấn chiếm sang thửa đất rừng của gia đình ông C khoảng 150 m² là không đúng. Thửa đất của gia đình bà và thửa đất của gia đình ông C có ranh giới rõ ràng, gia đình ông C đã tự chôn cột bê tông để xác định ranh giới giữa hai thửa đất của hai gia đình.

Về lối đi, bà xác định nguồn gốc do gia đình bà tự bỏ đất của gia đình để làm lối đi và có xin thêm đất của gia đình bà T2, ông T1. Đoạn lối đi mà hiện nay gia đình bà và gia đình ông C đang tranh chấp nằm tiếp giáp giữa đất nhà bà và đất nhà ông T1, là đoạn đường từ chỗ ngã ba đến cổng nhà bà và thửa đất rừng nhà ông C. Năm 2011 gia đình bà thuê máy múc vạt thêm vào đất của gia đình ông T1 khoảng 50cm, còn một phần là đất vườn của gia đình bà. Máy múc đã san phẳng, lấp đất, cắt bỏ cây chè trong vườn của gia đình bà để cải tạo mở rộng đường đi mất một ngày công. Trước đây gia đình bà đi qua phía nhà ông B1, do đường phía bên đó đi lại khó khăn, dốc nên gia đình bà đã phải mở lối đi như hiện nay. Khi cải tạo mở rộng đoạn đường gia đình bà đã thuê máy múc của anh T3, múc cả những khu xung quanh nhà nên không thể xác định được chi phí gia đình bà đã bỏ ra để cải tạo mở rộng đoạn đường đi đó hết bao nhiêu tiền.

Bà xác định đoạn đường đang tranh chấp hiện nay là lối đi riêng của gia đình bà, không phải là lối đi chung của xóm nên gia đình bà có quyền cho ai đi qua và không cho ai đi qua. Việc gia đình ông C cho rằng trước đây có đường xe công nông, xe cải tiến đi vào qua đoạn đường đó là không chính xác. Trước đây mọi

người sử dụng xe đi vào là do gia đình bà cho đi nhờ qua đất bãi của gia đình, gia đình bà không bỏ đất ra, không cải tạo thì không có con đường đi lại như hiện nay. Hiện nay bà vẫn đang cho mọi người đi nhờ qua đất nhà bà để xuống làm ruộng và rừng ở phía dưới, chính là phần đất đã đổi cho gia đình anh A để anh A đi xuống ruộng và rừng của anh A ở phía dưới, phần đất này sát với hàng rào của nhà ông C.

Bà X nộp cho Tòa án bản pho to Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông (bà) Lại Văn Đ do UBND huyện P cấp ngày 28/10/2002, không có bản chứng thực do bản gốc bà đang thế chấp tại ngân hàng để vay tiền.

- Bà Đỗ Thị B trình bày: Bà là vợ của ông Diệp Văn C, bà thống nhất với ý kiến của ông C. Khi gia đình chị X chưa ra ở trên thửa đất thì đã có con đường vào thửa đất rừng của gia đình bà và vào thửa đất của gia đình chị X. Đoạn đường đang tranh chấp trước đây khi gia đình chị X chưa cải tạo, mở rộng, san phẳng thì gia đình bà đã sử dụng xe cải tiến, xe công nông vận chuyển, khai thác gỗ qua đoạn đường đó, lúc đó đoạn đường tương đối bằng phẳng, vẫn di chuyển đi lại bình thường. Sau khi gia đình chị X ra ở trên thửa đất đã cho máy múc, máy ủi sàn phẳng con đường, rồi cản trở không cho gia đình bà sử dụng đoạn đường đó. Ngoài ra, trong quá trình sử dụng thửa đất, vào khoảng năm 2011 - 2012 gia đình chị X đã lấn sang thửa đất rừng của gia đình bà khoảng 150 m². Phần đất gia đình chị X lấn chiếm sang thửa đất của gia đình bà, hiện nay gia đình chị X đã rào xung quanh để chăn nuôi gà. Bà yêu cầu gia đình chị X trả lại gia đình bà phần diện tích đất đã lấn chiếm và không được cản trở gia đình bà sử dụng lối đi chung.

- Chị Lại Thị T và anh Lại Văn H2 cùng thống nhất trình bày: Anh chị là con trai, con gái của ông Lại Văn Đ và bà Diệp Thị X. Gia đình anh chị ra thửa đất 176a, 176b ở từ năm 2001, trên thửa đất ở, đất vườn gia đình anh chị có xây dựng nhà ở, công trình phụ, trồng cây có ranh giới rõ ràng với các thửa đất xung quanh. Gia đình anh chị sử dụng đúng phần diện tích đất của gia đình, không lấn chiếm đất của ai. Trước đây gia đình anh chị đi qua lối nhà ông B1, từ năm 2011 gia đình anh chị thuê máy múc cải tạo phá bãi chè mở đường đi vào như hiện nay. Nay gia đình ông C khởi kiện cho rằng gia đình anh, chị lấn chiếm sang thửa đất rừng của gia đình ông C là không đúng. Anh chị cũng xác định đoạn đường đi vào thửa đất nhà anh chị và thửa đất rừng nhà ông C là lối đi riêng của gia đình anh chị nên gia đình có quyền đối với đoạn đường này.

- Ông Diệp Xuân T1 và bà Trần Thị N trình bày: Vào khoảng năm 2013 gia đình ông bà có cho gia đình chị X đất để mở rộng đường đi vào nhà chị X, anh Đ. Gia đình ông bà nhất trí cho gia đình chị X khoảng 1m chiều rộng lối đi vào thửa đất, khi cho chỉ nói bằng miệng không có văn bản gì, hiện nay phần diện tích đất đó vẫn thuộc thửa đất đồi của gia đình ông bà, gia đình ông bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất đồi trên. Quan điểm của ông bà là gia đình ông bà không có tranh chấp quyền sử dụng đất với ai, phần diện tích đất của gia đình ông bà hiện nay đang nằm trong phần diện tích lối đi đang có tranh chấp, gia đình ông bà nhất trí để mọi người cùng sử dụng làm lối đi, cho mọi người cùng

sử dụng đi lại. Do công việc bận nên ông bà đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt ông bà trong tất cả các buổi làm việc sau này và xét xử vắng mặt ông bà trong các phiên tòa. Phần đường hiện hai bên tranh chấp chỉ chung với đất nhà ông Diệp Xuân T1.

- Anh Diệp Văn A trình bày: Vào năm 2011 anh có đổi đất cho gia đình chị X, theo thỏa thuận gia đình chị X sử dụng phần diện tích đất của anh ở phía sau nhà chị X làm lối đi, còn anh sử dụng phần diện tích phía trước của gia đình chị X để làm lối đi vào thửa đất đồi của gia đình anh, nay phần diện tích đất này gia đình ông Diệp Văn C cho rằng là phần diện tích đất của gia đình ông, gia đình chị X lấn chiếm. Quan điểm của anh là nếu phần diện tích đất đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng của gia đình chị X thì anh vẫn tiếp tục đổi đất cho chị X còn nếu không phải đất của chị X thì anh và gia đình chị X sẽ trao đổi nói chuyện sau, anh không có yêu cầu đề nghị gì. Do công việc bận nên anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh trong tất cả các buổi làm việc sau này và xét xử vắng mặt anh trong các phiên tòa. Ý kiến của anh A phù hợp với ý kiến chị X nên HĐXX không đưa anh A vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi liên quan.

- Anh Diệp Văn T3 trình bày: Vào năm 2012 gia đình bà Diệp Thị X có thuê anh múc đất để mở rộng đường vào, trước khi múc đất mở rộng đường có một lối nhỏ đi vào nhà bà X, lối mòn đó rộng khoảng 0,5m. Gia đình bà X có thuê anh múc đất, san phẳng mở rộng đường, làm việc trong một ngày thời gian làm từ 7 giờ 30 phút sáng đến 17 giờ chiều. Tiền công một ngày làm việc là 400.000 đồng/1 giờ. Hôm đó anh đã làm cho gia đình bà X 08 tiếng. Đến năm 2015 gia đình bà X lại tiếp tục thuê anh múc đất đổ vào phần diện tích đất vườn nằm tiếp giáp giữa thửa đất rừng của ông C với thửa đất vườn của bà X, mà hiện nay đang xảy ra tranh chấp giữa gia đình ông C và gia đình bà X. Vào thời điểm anh đổ đất, năm 2015 không có tranh chấp gì xảy ra.

- Tại công văn số 1340/UBND - TNMT ngày 07/6/2024 của UBND huyện P cho biết:

  1. Về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00287/QSDĐ/929/2002/QĐ-UB/H do UBND huyện P cấp ngày 28/10/2002 mang tên hộ ông Lại Văn Đ.
  2. Về nguồn gốc, thời điểm quá trình sử dụng tại thửa đất số 176a, 176b tờ bản đồ số 16 xã B: Thửa đất 176a, diện tích 300m², mục đích sử dụng đất ở (T) và thửa đất số 176b, diện tích 1.172 m² mục đích sử dụng đất vườn, tờ bản đồ địa chính số 16, xã B (được tách ra từ thửa đất số 176, diện tích 165.402 m² mục đích sử dụng ghi trên bản đồ là RST) có nguồn gốc do ông Diệp Văn H5, bà Hoàng Thị H6 (là ông bà nội của bà Diệp Thị X) khai phá từ trước năm 1980 để trồng cây. Đến năm 2000 cho cháu nội là bà Diệp Thị X và chồng là ông Lại Văn Đ để xây dựng nhà ở riêng. Thời điểm tặng cho đất hai bên không có giấy tờ hay làm thủ tục tặng cho theo quy định.

Quá trình sử dụng: Hộ ông Lại Văn Đ, bà Diệp Thị X sử dụng ổn định, không tranh chấp vào mục đích làm nhà ở và làm vườn từ năm 2000 đến tháng 8 năm 2021, ông Diệp Văn C có đơn đề nghị giải quyết tranh chấp về lối đi liên quan đến thửa đất 176a, 176b của hộ ông Lại Văn Đ, bà Diệp Thị X.

Kiểm tra thực địa thửa đất 176a, 176b tờ bản đồ số 16 hiện trạng là 1 thửa đất không xác định được ranh giới của thửa đất ở và đất vườn ngoài thực địa.

Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, qua khai thác hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Chi nhánh Văn phòng Đ2 cho thấy:

  • Tại đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất ngày 20/7/2002, ông Lại Văn Đ xin đăng ký quyền sử dụng 2.234 m², trong đó có thửa đất số 176a, diện tích 300m² mục đích sử dụng đất ở (T) và thửa đất số 176b, diện tích 1.172 m², mục đích sử dụng vườn tạp thuộc tờ bản đồ địa chính số A, xã B.
  • Tại trang số 3 sổ địa chính xóm C ghi tên chủ sử dụng đất ông Lại Văn Đ, vợ là Diệp Thị X đăng ký sử dụng 2.234 m², trong đó có thửa đất số 176a, diện tích 300m² mục đích sử dụng đất ở (T) và thửa đất số 176b, diện tích 1.172 m², mục đích sử dụng vườn tạp thuộc tờ bản đồ địa chính số A, xã B.
  • Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00287/QSDĐ/929/2002/QĐ-UB/H, do UBND huyện P cấp ngày 28/10/2002, mang tên hộ ông Lại Văn Đ, trong đó có thửa đất số 176a, diện tích 300m² mục đích sử dụng đất ở (T) và thửa đất số 176b, diện tích 1.172 m², mục đích sử dụng vườn tạp thuộc tờ bản đồ địa chính số A, xã B.

Ngoài ra không có giấy tờ gì khác.

Trên cơ sở báo cáo nguồn gốc, thời điểm, quá trình sử dụng đất và hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thấy: Thửa đất số 176a, 176b tờ bản đồ địa chính số 16 xã B có nguồn gốc do hộ ông Lại Văn Đ, vợ là Diệp Thị X nhận tặng cho từ bà nội là Hoàng Thị H6 từ năm 2000, tuy nhiên việc tặng cho không có giấy tờ hay thực hiện thủ tục tặng cho theo quy định. Căn cứ quy định tại điểm 3.a Chương 2 và điểm 2.c Chương 3 Thông tư 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 của T5 hướng dẫn về đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xác định Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00287/QSDD/929/2002/QĐ-UB/H, do UBND huyện P cấp ngày 28/10/2002, mang tên hộ ông Lại Văn Đ chưa đảm bảo đúng quy định pháp luật.

  1. Về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 337/QSDĐ/425/2000/QĐ-UB/H do UBND huyện P cấp ngày 02/10/2000 mang tên hộ ông Diệp Văn C2 (ông Diệp Văn C).
  2. Về nguồn gốc, thời điểm quá trình sử dụng tại thửa đất số 32 tờ bản đồ số 422/2 xã B: Thửa đất số 32 tờ bản đồ số 422/2 xã B có nguồn gốc do ông Diệp Văn C1 khai phá từ trước năm 1990 để trồng cây. Năm 1990, ông C1 chết, gia đình ông C1 thống nhất cho ông Diệp Văn C (là em trai ông C1) sử dụng thửa đất để trồng cây theo dự án P trồng bạch đàn.

Quá trình sử dụng: Hộ ông Diệp Văn C sử dụng ổn định, không tranh chấp từ năm 1990 vào mục đích trồng rừng đến tháng 8 năm 2021, ông Diệp Văn C có đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai về lối đi liên quan đến thửa đất 176a, 176b của hộ ông Lại Văn Đ, bà Diệp Thị Xuân G với thửa đất số 32 tờ bản đồ số 422/2 xã B.

Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, qua khai thác hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Chi nhánh Văn phòng Đ2 cho thấy:

  • Tại biên bản bàn giao rừng và đất lâm nghiệp ngày 18/8/1999, hộ ông Diệp Văn C được giao lô số 32, diện tích 0,35 ha và lô số 54, diện tích 0,28 ha khoảnh 422a/2.
  • Tại Quyết định giao đất lâm nghiệp số 2047/QĐ/UB, UBND huyện P quyết định giao cho ông Diệp Văn C 0,63 ha đất rừng trồng thuộc lô 32, lô 54 K2, TK422a.
  • Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 337/QSDĐ/425/2000/QĐ-UB/H (Giấy chứng nhận tạm giao theo bản đồ giao đất giao rừng) do UBND huyện cấp ngày 02/10/2000 mang tên hộ ông Diệp Văn C2, trong đó có thửa đất số 32, tờ bản đồ 422/2 mục đích sử dụng đất RST. Tuy nhiên, trong quá trình in viết Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã in viết sai tên chủ sử dụng đất từ hộ ông Diệp Văn C thành hộ ông Diệp Văn C2.

Căn cứ nguồn gốc, quá trình sử dụng đất và hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thấy: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 337/QSDĐ/425/2000 QĐ-UB/H do UBND huyện P cấp ngày 02/10/2000 mang tên hộ ông Diệp Văn C2 (ông Diệp Văn C) đã cấp theo quy định điểm 2.b, điểm 6.a mục II Thông tư liên tịch số 62/2000/TTLT-BNN-TCĐC ngày 06/6/2000 của Bộ N2 – Tổng cục Địa chính, Hướng dẫn việc giao đất, cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp. Tuy nhiên, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản đồ giao đất giao rừng đo vẽ bằng tay trên nền bản đồ địa hình không có hệ tọa độ theo bản đồ địa chính, do vậy có nhiều sai sót.

Tại công văn số 68/CV-HKL ngày 04 tháng 5 năm 2023 Hạt kiểm lâm huyện P cho biết: Tại kho lưu trữ có lưu biểu thống kê ...trong biểu thông kê diện tích giao đát lâm nghiệp năm 1999 theo đơn vị hành chính tại xóm C, xã B huyện P có tên ông Diệp Văn C. Ngoài ra, tại hạt Kiểm lâm không có các hồ sơ liên quan nào khác.

Tòa án huyện P đã thẩm định hai lần bằng máy vào các ngày 06/4/2023 và ngày 22/11/2023, kết quả ra hai sơ đồ thể hiện vị trí, diện tích đất tranh chấp khác nhau.

Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã thẩm định bằng máy lần thứ 3 nhưng không xác định được ranh giới thửa đất của hai gia đình tại thời điểm bà X tách thửa đất để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản đồ địa chính tại địa phương đang quản lý nên đơn vị đo đạc đã không có được kết quả thẩm định theo yêu cầu của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

Về nội dung này đại diện chính quyền địa phương và nhân viên đo đạc cho biết như sau:

- UBND xã B cho biết: Về công tác quản lý về đất đai hiện tại UBND xã Bàn Đạt có bản đồ qua các thời kỳ.

  • Bản đồ giải thửa 299 đo vẽ năm 1985 đến 1988 hiện UBND xã không còn lưu trữ. Không có bản số hóa lưu.
  • Bản đồ địa chính F48 đo vẽ năm 1993 được số hóa khu vực có tranh chấp thuộc tờ bản đồ số 6 xã B, toàn bộ khu vực tranh chấp được đo bao vào thửa 176 RST và cạnh các thửa ruộng nông nghiệp. Trên bản đồ không có lối đi vào đất của hai hộ dân này. Theo yêu cầu của Tòa án huyện Phú Bình và Tòa án tỉnh Thái Nguyên UBND xã đã cung cấp bản số bản đồ này cho đơn vị đo đạc là Công ty TNHH H8.
  • Năm 2002 hộ gia đình ông Đ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được cán bộ địa chính xã chỉnh lý trên tờ bản đồ địa chính F48 số 6. Cụ thể tách thửa 176a diện tích 300m² đất thổ cư và thửa 176b diện tích 1172m² đất vườn tạp. Nội dung chỉnh lý này chưa được số hóa, khi chỉnh lý không có chỉnh lý lối đi vào đất nhà ông Đ trên bản đồ. Theo yêu cầu của Tòa án huyện Phú Bình và Tòa án tỉnh Thái Nguyên UBND xã đã cung cấp phần chỉnh lý bản giấy bản đồ này cho đơn vị đo đạc là Công ty TNHH H8 và Công ty cổ phần Đ3.
  • Năm 2000 hộ gia đình ông Dương Văn C3 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích rừng trồng là 0,63 ha thuộc lô 32 và 54 tiểu khu 422a theo bản đồ lâm nghiệp giao đất giao rừng. Hiện nay tại UBND xã B không lưu trữ bản đồ này (bản đồ được lưu ở C4). Trên bản đồ tờ số 6 F48 không thể hiện các thửa đất rừng của gia đình ông C3.
  • Bản đồ địa chính đo vẽ năm 2019 được số hóa khu vực có tranh chấp thuộc tờ bản đồ số 2 xã B, được dẫn đạc theo hiện trạng thực tế lối đi vào nhà bà X và hiện trạng giáp ranh đất hai gia đình, trên bản đồ địa chính năm 2019 có diện tích đất để trống giữa thửa 83, thửa 86 và thửa 96 (thực tế đây là thửa ruộng cấy lúa, nhà bà X đã đổ đất nên mất hiện trạng của ruộng)
  • Cụ thể ranh giới hiện trạng khu vực tranh chấp có hàng rào do gia đình ông C3 tự chôn cọc bê tông và bao bằng lưới sắt mắt cáo kéo dài hết phần đất giáp ranh của hai hộ gia đình, ông Chính xác Đ1 đất nhà ông từ phần hàng rào ra phía đất nhà bà X đang quản lý từ 3m đến 3,5m ; Bà X xác định ranh giới đất hai nhà chính là hàng rào do gia đình ông C3 tự chôn cột bê tông đã hơn 10 năm.
  • Đất nhà bà X từ thửa 176a và thửa 176b nay thành thửa 83. Đất rừng nhà ông C3 thành thửa 86. Phần đất ruộng của gia đình bà X (giữa thửa 83, thửa 86 và thửa 96), bà X đổ đất thành đất vườn nên hiện chưa công ty đo đạc chưa vào số thửa cụ thể, hiện để trống. UBND xã đã cung cấp bản số bản đồ này cho đơn vị đo đạc là Công ty TNHH H8.
  • Tòa án cho cán bộ địa chính xã xem tài liệu trích lục bản đồ chỉnh lý năm 2019 xã Bàn Đạt tờ bản đồ số 2 có dấu treo của UBND xã B và đề nghị cung cấp

thông tin về tài liệu này và được cung cấp như sau: Theo đề nghị của bên công ty H8 và Tòa án huyện cán bộ địa chính xã đã lồng bản số của bản đồ F48 và bản số bản đồ năm 2019 để thấy phần rỗng giữa đất ông C3 và đất bà X trên bản đồ 2019 chính là các thửa đất ruộng nông nghiệp của xã B (trong đó có thửa ruộng của bà X như nói ở trên).

Ngoài ra tại UBND xã không còn lưu trữ loại bản đồ nào khác.

Đồng thời UBND xã B cung cấp cho Tòa án 02 trích lục bản đồ phần có diện tích đất của hai nhà bản có số hóa và 01 trích lục bản đồ có phần chỉnh lý đất của gia đình bà X, bản này không có số hóa.

- Ông Diệp Văn N1, là trưởng xóm C, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên cho biết như sau: Ông hiện là trưởng xóm C, xã B, huyện P. Trước năm 2014 ông N1 tham gia công tác mặt trận của xóm. Ông không có họ hàng gì với gia đình ông C3 và gia đình bà X. Đối với việc tranh chấp đất đai giữa hai gia đình ông cho biết như sau: Bố đẻ chị X là ông Diệp Văn C1 (đã chết) là anh trai cả của ông Diệp Văn C, đất chị X đang ở là của ông C1 cho.

Khoảng năm 2013 hoặc 2014 khi đó ông làm công tác mặt trận ở xã đã cùng trưởng xóm đến hòa giải tranh chấp đất giữa hai nhà cụ thể như sau: Đất nhà ông C là đất đồi trồng rừng, sau đồi là ruộng nông nghiệp, chân đồi là đất ruộng nông nghiệp của nhà chị X. Một số hộ dân kể cả nhà chị X thường đi theo ven đồi để sang làm ruộng ở bên kia đồi. Do gia đình ông C và chị X có mâu thuẫn, gia đình ông C không muốn cho chị X đi nhờ qua để sang ruộng bên kia làm nên đã chôn cọc bê tông và vây rào hết đồi trồng cây liền với đất nhà chị X lại. Chị X không có lối đi nên ra xã hỏi thì địa chính xã trả lời bản đồ không có lối đi ở chân đồi nên ông C rào không cho đi chị X phải chịu. Do không có lối đi qua chân đồi nên khi gia đình ông C đến kỳ khai thác cây cần phải cho ô tô vào chở cây đi thì chị X không cho đi vào đường vào cổng nhà chị X nên ông C mới kiện ra xã sau đó mới kiện đến Tòa án (bởi tính từ đường lớn thì phải đi qua cổng nhà chị X mới đất đồi trồng cây của gia đình ông C). Như vậy hàng rào ranh giới đất giữa hai gia đình chôn bằng cột bê tông là do chính gia đình ông C dựng lên khoảng hơn chục năm. Khi nhà ông C chôn cột đất hai nhà rất rõ ràng chứ không liền như bây giờ vì đất nhà ông C là đồi cao, đất nhà bà X là ruộng lúa ở dưới thấp. Bao nhiêu năm mốc giới ổn định chỉ đến khi ông C cần đường đi vào khai thác gỗ thì mới kiện chị X lấn đất.

Đối với việc chị X đổ đất vào ruộng là bởi sau khi anh C rào không có đường đi ra ruộng nên chị X phải đổ đất lên ruộng để lấy lối đi xuống đồng, một số hộ dân cũng đi (trong đó có nhà A), khoảng năm 2015 đến 2016 nhà X đổ đất tôi không nhớ chính xác.

Về nguồn gốc lối đi vào nhà chị X, phía ngoài là đi chung với mấy hộ dân khác, chỉ đoạn rẽ vào đến cổng nhà chị X (giáp với đồi nhà ông T1) là chị X bỏ đất nhà mình ra làm (cuối đường này chính là đồi cây của gia đình ông C), do vậy đường vào là của riêng gia đình chị X, ông C muốn đi phải được sự nhất trí của chị

X. Trên bản đồ cũng không có lối đi vào đất của hai nhà, nếu bản đồ có lối đi từ chỗ rẽ vào nhà chị X đến hết chân đồi nhà ông C thì năm xưa ông C không rào được đồi nhà mình không cho chị X và một số hộ dân đi qua xuống đồng làm ruộng.

Về diện tích đất sát với hàng rào cột bê tông của gia đình chị X, chị X khai là đã đổi đất cho gia đình anh Diệp Văn A. Thực chất việc đổi đất là chị X cho anh A đi nhờ qua đất nhà chị X xuống đồi cây phía dưới của nhà A còn chị X được đi qua đất nhà A ở phía trên nhà chị X cho tiện chứ không phải đổi hẳn và đã xây dựng công trình gì trên đó. Việc đổi này nói miệng chứ không chỉnh lý vào sổ đỏ hai nhà.

Việc hai gia đình mâu thuẫn kiện tụng kéo dài nhiều năm nay, hiện cũng chỉ có một lối đi mà ô tô đi được từ ngoài đường to vào đến đồi của nhà ông C, bản thân gia đình ông C không cần phải sử dụng lối đi này hàng ngày mà chỉ nào khai thác rừng mới cần dùng để ô tô đi vào bốc gỗ. Chính địa phương hòa giải rất nhiều lần nên đề nghị Tòa án tỉnh Thái Nguyên giải quyết vụ việc đúng quy định của pháp luật cho dứt điểm vụ việc.

- Tòa án làm việc với Đại diện Công ty cổ phần Đ3: Ông Nguyễn Văn H7 nhân viên đo đạc trình bày.

Ý kiến của Tòa án: Do lần thẩm định tháng 4/2003 và lần thẩm định tháng 11/2003, đơn vị đo đạc là Công ty TNHH H8 cung cấp cho Tòa án huyện Phú Bình hai kết quả hiện trạng hình thể, diện tích đất tranh chấp giữa gia đình ông Diệp Văn C (ủy quyền cho anh Diệp Văn H) và gia đình bà Diệp Thị X khác nhau, đề nghị ông cho biết nguyên nhân?

Ông H7 cho biết ông lấy đâu được số liệu ranh giới đất giữa hai nhà theo bản đồ địa chính 2013 – 2015?

Với diện tích đất tranh chấp do anh H và bà X chỉ tại lần thẩm định thứ ba - ngày 06/8/2024 (bà X không cho anh H dựng cọc mốc tranh chấp trên vườn nhà bà nên chỉ có thể xác định bằng miệng là phần đất bà Xuân lấn của nhà anh H tính từ cột bê tông và hàng rào sắt mắt cáo về phía đất của bà X ở đầu của vị trí tranh chấp là 3m, điểm cuối cùng cách ranh giới hai nhà là 3,5m) phía công ty có thể lồng hiện trạng diện tích đất tranh chấp lên bản đồ F48 đo vẽ năm 2013 đến 2015 để xác định diện tích đất tranh chấp nằm ở phần đất của nhà nào theo bản đồ được không ?

Sau khi nghe yêu cầu của Tòa án, ông H7 cho biết như sau: Ông H7 là người đã trực tiếp tiến hành đo đạc đất cả ba lần tại hai thửa đất của gia đình anh H và gia đình bà X. Sở dĩ hai lần đầu kết quả khác nhau bởi lần đo tháng 4/2023 khi đó đồi nhà anh H chưa khai thác rừng đó là một khu vực rất rậm rạp, phía nhà bà X chống đối không chấp hành yêu cầu chỉ mốc giới, hai bên cãi chửi nhau, các anh chị cán bộ địa phương phải can thiệp tình trạng giống như hôm ngày 06/8/2024 vừa qua. Do rừng rậm rạp nên không nhìn thấy và không ai chỉ các cột bê tông nhà anh H chôn dọc theo đất để đưa vào sơ đồ trích đo hiện trạng đất và bà X cũng chỉ

nói mồm mốc là mấy gốc cây đã cắt cây chỉ còn gốc đã rất cũ. Tôi dựa vào hai bên chỉ mốc bằng miệng để dựng nên hiện trạng.

Lần thẩm định tháng 11/2023 thì lúc này đã thu hoạch hết rừng lấy gỗ, nhìn rõ cột bê tông mốc giới và ông đo vẽ theo các bên chỉ mốc đất của nhà mình, và ông đã xác định trên sơ đồ vị trí của số cột bê tông đã chôn.

Tóm lại sơ đồ hai lần đo khác nhau là do hai gia đình có đất tranh chấp đã chỉ vị trí mốc giới đất của gia đình khác nhau.

Đến lần thứ ba ngày 08/8/2024, Thẩm phán yêu cầu hai bên tự đóng cọc để xác định chính xác mốc giới đất nhà mình làm căn cứ chính xác để ông đo vẽ vị trí đất tranh chấp thì phía bà X từ chối đóng cọc và đóng cổng không cho anh H vào đóng cọc xác định ranh giới đất gia đình anh H. Do vậy, lần này anh H cũng chỉ xác định vị trí đất tranh chấp bằng miệng, lần này trên đất nhà anh H đã trồng cây keo nhỏ.

Về vị trí ranh giới đất giữa hai nhà theo bản đồ địa chính F48 đo vẽ năm 2013-2015: Trên thực tế bản đồ F48 là không có ranh giới đất của nhà anh H cũng như đất nhà bà X. Khi bà X được cấp sổ đỏ UBND xã chỉnh lý lên bản đồ F48 bản giấy bằng tay không có bản số hóa. Do yêu cầu của Tòa án là lồng diện tích đất tranh chấp lên bản đồ địa chính nên ông đã trao đổi với cán bộ địa chính xã lồng bản đồ địa chính đo vẽ năm 2019 lên bản đồ địa chính F48 năm 1993 để ra ranh giới đó. Do vậy, trong cả hai sơ đồ ông lồng đều có các thửa đất nông nghiệp theo bản đồ F48. Bản chất ranh giới này vẫn là ranh giới hiện trạng theo bản đồ đo vẽ năm 2019.

Về yêu cầu của Tòa án là lồng hiện trạng đất tranh chấp giữa hai gia đình lên bản đồ F48 để xác định diện tích đất tranh chấp nằm ở phần đất của nhà nào theo bản đồ thì như ông đã phân tích ở trên: Bản đồ F48 là không có ranh giới đất của nhà anh H cũng như đất nhà bà X. Khi bà X được cấp sổ đỏ UBND xã chỉnh lý lên bản đồ F48 bằng tay không có bản số hóa và bản chỉnh lý đó không chính xác hình dạng đất nhà bà X không có điểm nào nhọn như chỉnh lý và đất nhà bà X là đất thổ cư tại sao khi chỉnh lý trên bản đồ lại không có đường vào.

Do vậy, đơn vị đo đạc không thể thực hiện được yêu cầu của Tòa án nên không thể cung cấp cho Tòa án được sơ đồ lồng ghép diện tích đất tranh chấp lên bản đồ F48 và không cung cấp được sơ đồ lồng ghép diện tích đất tranh chấp lên bản đồ địa chính 2019 bởi trên bản đồ địa chính năm 2019 có diện tích đất để trống giữa thửa 83, thửa 86 và thửa 96 (thực tế đây là thửa ruộng nhà bà X đã đổ đất nên mất hiện trạng của ruộng). Cung cấp được sơ đồ lồng ghép hiện trạng con đường đi vào nhà bà X vào bản đồ địa chính 2019 theo yêu cầu của Tòa án.

Tại biên bản định giá ngày 04/4/2024 Hội đồng định giá không xác định được giá trị tài sản tranh chấp trong vụ án do không xác định được phần diện tích đất tranh chấp nằm trong thửa đất nào. Nếu như phần diện tích đất tranh chấp thuộc thửa đất rừng thì có giá 46.000 đồng/m², nếu thuộc đất vườn thì có giá 65.000 đồng/m².

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán; Của Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa; Của đương sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Diệp Văn C về việc yêu cầu gia đình bà Diệp Thị X phải trả lại diện tích đất 135m², tại thửa đất số 86, tờ bản đồ số 2 bản đồ địa chính xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (Trước đây là thửa đất số 32, tờ bản đồ số 422/2).
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Diệp Văn C về việc buộc gia đình bà Diệp Thị X không được quyền cản trở gia đình ông Diệp Văn C sử dụng lối đi vào thửa đất số 86, tờ bản đồ số 2 bản đồ địa chính xã B (Trước đây là thửa đất số 32, tờ bản đồ số 422/2). Gia đình ông Diệp Văn C được quyền sử dụng lối đi chung và có trách nhiệm trả tiền đất, tiền công tôn tạo lối đi chung cho gia đình bà Diệp Thị Xuân

Về án phí, lệ phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về thủ tục tố tụng:

  1. [1] Về xác định quan hệ pháp luật: Ông Diệp Văn C khởi kiện yêu cầu gia đình bà Diệp Thị X trả lại diện tích đất đã lấn chiếm tại thửa đất số 32 (nay là thửa số 86, tờ bản đồ số 2, bản đồ địa chính xã B) và yêu cầu gia đình bà Diệp Thị X không được cản trở gia đình ông C sử dụng lối đi vào thửa đất rừng số 32 (nay là thửa số 86, tờ bản đồ số 2, Bản đồ địa chính xã B). Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ pháp luật về “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp về quyền lối đi qua” theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 166, Điều 206, Điều 254 Bộ luật dân sự.
  2. [2] Về thẩm quyền giải quyết: Diện tích đất có tranh chấp ở tại xóm C, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Chị Lại Thị H3 hiện nay đang cư trú tại P từ trước khi Tòa án huyện P thụ lý vụ án nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  3. [3] Về sự tham gia tố tụng của đương sự: Chị Lại Thị H3 hiện nay đang cư trú tại P, gia đình mẹ đẻ và mẹ chồng của chị H3 đều không cung cấp được địa chỉ nơi ở của chị H3 mà chỉ thông tin qua điện thoại với chị H3; Mẹ đẻ và mẹ chồng chị H3 đều đã thông báo cho chị H3 biết về nội dung khởi kiện và các thủ tục tố tụng đối với chị H3 mà Tòa án đã giao cho hai người để thông báo lại cho chị H3 và chị có ý kiến đề nghị Tòa án xử theo ý kiến của mẹ chị là bà X, chị không về được nên

đề nghị xử vắng mặt. Đối với anh Diệp Văn A, ông Diệp Xuân T1 đều có đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt họ. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 229 Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.

* Về nội dung vụ án:

  1. [4] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Diệp Văn C yêu cầu gia đình bà Diệp Thị X phải trả lại 135m² đất đã lấn sang thửa đất rừng số 32 (nay là thửa số 86) và không được cản trở việc gia đình ông sử dụng lối đi chung vào thửa đất rừng số 32, đoạn đi qua thửa đất rừng của gia đình ông Diệp Văn T4 và thửa đất vườn của gia đình bà Diệp Thị X.
    1. [4.1] Xét yêu cầu của ông Diệp Văn C về việc yêu cầu gia đình bà Diệp Thị X phải trả lại 135 m² đất đã lấn sang thửa đất rừng số 32 (nay là thửa số 86):
    2. Hội đồng xét xử xét thấy:

      1. 4.1.1.Về nguồn gốc các thửa đất trên trước đây đều thuộc về cùng một gia đình cụ Diệp Văn H5 và cụ Hoàng Thị H6 là bố mẹ đẻ của ông Diệp Văn C1 (bố đẻ chị Diệp Thị X) và ông Diệp Văn C.
      2. Năm 2000 gia đình ông C được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 337/QSDĐ/425/2000/QĐ-UB/H do UBND huyện P cấp ngày 02/10/2000 mang tên hộ ông Diệp Văn C2 (ông Diệp Văn C) cấp theo bản đồ lâm nghiệp, trong đó có thửa đất tranh chấp là thửa số 32 tờ bản đồ số 422/2 xã B với diện tích 3.500m², thửa đất này không có trong tờ bản đồ F48 địa chính xã B. Nay là thửa đất 86 bản đồ địa chính số 6 đo vẽ năm 2019 của xã B huyện P diện tích 6628,1 m². Kết quả thẩm định thể hiện diện tích đất của thửa số 86 hiện nay là 6.385 m² (đo theo ranh giới nhà ông C tự chôn cọc bê tông); Chiều dài ranh giới nhà ông C tự chôn cọc bê tông là 45,68m.

        Năm 2002 gia đình ông Lại Văn Đ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00287/QSDĐ/929/2002/QĐ-UB/H do UBND huyện P cấp ngày 28/10/2002 mang tên hộ ông Lại Văn Đ đối với thửa đất 176a, diện tích 300m², mục đích sử dụng đất ở và thửa đất số 176b, diện tích 1.172 m² mục đích sử dụng đất vườn, tờ bản đồ địa chính số 16, xã B. Nay là thửa đất 83 bản đồ địa chính số 6 đo vẽ năm 2019 của xã B huyện P diện tích 2.765,4 m²; Kết quả thẩm định thể hiện diện tích đất của thửa số 83 hiện nay là 2.800,4 m² .

      3. 4.1.2. Về bản đồ qua các thời kỳ về khu vực có tranh chấp Tòa án thu thập được thể hiện như sau:
      4. Bản đồ địa chính F48 đo vẽ năm 1993 khu vực có tranh chấp thuộc tờ bản đồ số 6 xã B, toàn bộ khu vực tranh chấp được đo bao vào thửa 176 RST và cạnh các thửa ruộng nông nghiệp do vậy trên bản đồ không có lối đi vào đất của hai hộ dân này.

        Năm 2002 hộ gia đình ông Đ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được cán bộ địa chính xã chỉnh lý trên tờ bản đồ địa chính F48 số 6. Cụ thể tách thửa 176a diện tích 300m² đất thổ cư và thửa 176b diện tích 1172m² đất vườn tạp.

Nội dung chỉnh lý này chưa được số hóa, khi chỉnh lý không có chỉnh lý lối đi vào đất nhà ông Đ trên bản đồ.

  • Năm 2000 hộ gia đình ông Dương Văn C3 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích rừng trồng là 0,63 ha thuộc lô 32 và 54 tiểu khu 422a theo bản đồ lâm nghiệp giao đất giao rừng. Hiện nay UBND xã B và Chi cục kiểm lâm huyện C4 đều không lưu trữ bản đồ này. Trên bản đồ tờ số 6 F48 không thể hiện các thửa đất rừng của gia đình ông C3.
  • Bản đồ địa chính đo vẽ năm 2019 được số hóa khu vực có tranh chấp thuộc tờ bản đồ số 2 xã B, được dẫn đạc theo hiện trạng thực tế lối đi vào nhà bà X và hiện trạng giáp ranh đất hai gia đình, trên bản đồ địa chính năm 2019 có diện tích đất để trống giữa thửa 83 (đất nhà bà X), thửa 86 (đất nhà ông C3).
      1. 4.1.3. Lời khai của hai gia đình ông C3 và bà X đều thừa nhận ranh giới hai thửa đất là hàng rào chôn cột bê tông là do gia đình ông C3 tự chôn khoảng năm 2011 đến 2013.

Đây là những tình tiết không cần chứng minh quy định tại điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

Như vậy về quan hệ giữa các đương sự trong gia đình là quan hệ ruột thịt, nguồn gốc đất đai trước đây là liền thửa do cha ông sử dụng sau đó để lại cho con cháu. Nội dung này phù hợp với hiện trạng đất đai của hai gia đình thể hiện trên bản đồ địa chính qua các thời kỳ. Tuy liền kề nhau nhưng đất nhà nguyên đơn là đồi, đất nhà bị đơn là ruộng nên ranh giới tự nhiên rất rõ ràng. Khoảng năm 2011 đến 2012 gia đình nguyên đơn đã tự thiết lập ranh giới đất của gia đình mình (bằng việc chôn cột bê tông và vây bằng lưới thép) và hai gia đình sử dụng ổn định ranh giới này đã đã rất nhiều năm (năm 2015 gia đình bị đơn thuê người đổ đất vào thửa ruộng sát chân đồi nhà nguyên đơn nhưng gia đình nguyên đơn không có ý kiến gì), hai bên chỉ phát sinh tranh chấp đất từ năm 2021, nguyên nhân là do bị đơn không cho nguyên đơn sử dụng lối đi của nhà mình để khai thác rừng, vận chuyển gỗ bằng ô tô. Qua kiểm tra hiện trạng sử dụng đất giữa hai gia đình thì diện tích hai gia đình hiện đang sử dụng đều lớn hơn diện tích đất được nhà nước cấp cho quyền sử dụng.

Do vậy, không có căn cứ chấp nhận đơn khởi kiện của ông Diệp Văn C về việc yêu cầu gia đình bà Diệp Thị X phải trả lại 135 m² đất đã lấn sang thửa đất rừng số 32 (nay là thửa số 86) là phù hợp thực tế và Điều 176, Điều 3, khoản 2 Điều 6 Bộ luật dân sự và đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa..

    1. [4.2] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Diệp Văn C yêu cầu gia đình bà Diệp Thị X không được cản trở việc gia đình ông sử dụng lối đi chung vào thửa đất rừng số 32, đoạn đi qua thửa đất rừng của gia đình ông Diệp Văn T4 và thửa đất vườn của gia đình bà Diệp Thị X.

Hội đồng xét xử thấy: Tài liệu thể hiện tại mục 4.1.2 ở trên phù hợp với lời khai của bị đơn, người làm chứng là anh Diệp Văn A, bà Liểu Thị T2 và anh Diệp

Văn T3 cùng các tài liệu khác Tòa án thu thập tại chính quyền địa phương và công ty H8.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định bản đồ địa chính của khu vực này đến khi đo vẽ bản đồ năm 2019 không thể hiện có đường đi vào thửa đất của cả hai gia đình; Trước đây gia đình bị đơn sử dụng lối đi khác để đi vào nhà nhưng do khó đi nên gia đình bị đơn đã tạo dựng lối đi mới. Lối đi này được hình thành từ đất vườn của gia đình bị đơn và đất rừng của gia đình ông Diệp Văn T4, gia đình bị đơn thuê máy móc san ủi để tạo nên con đường nên đường thuộc quyền sử dụng của gia đình bị đơn và gia đình ông Diệp Văn T4.

Tuy nhiên việc trồng, chăm sóc và khai thác rừng là một nội dung phát triển kinh tế tại địa phương nói chung và là quyền lợi và nghĩa vụ khi sử dụng đất cho đúng mục đích của gia đình nguyên đơn. Phía gia đình ông T4 đồng ý cho sử dụng chung con đường. Mặt khác, gia đình nguyên đơn sử dụng chung con đường cũng không làm ảnh hưởng gì đến gia đình bị đơn và các hộ xung quanh. Tuy nhiên để được quyền sử dụng chung con đường, gia đình nguyên đơn phải thanh toán cho gia đình bị đơn các khoản tiền sau:

  • Tiền đất: 162,6 m² x 65000đ = 10.569.000đ : 3 = 3.523.000₫
  • Tiền thuê múc đất làm đường: 400.000đ x 8 tiếng : 2 = 1.600.000đ;
  • Chi phí tôn tạo, bảo dưỡng đường vì đất dốc, mưa xói mòn: 4.877.000₫.
  • Tổng số tiền là 10.000.000đ.

Ông Diệp Xuân T1 đồng ý cho mọi người đi chung và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Bởi các lẽ trên, thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là được sử dụng chung con đường với gia đình bị đơn cũng là phù hợp thực tế và tinh thần Điều 254, Điều 3, khoản 2 Điều 6 Bộ luật dân sự và đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Do con đường được hình thành từ phần đất vườn của gia đình bà X tách ra và hiện trạng diện tích của hai gia đình nguyên đơn và bị đơn đều lớn hơn diện tích đất được nhà nước cấp quyền sử dụng đất nên hai gia đình có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo diện tích đất thực tế đang sử dụng.

  1. [5] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản hết 10.000.000 đ (mười triệu đồng). Do yêu cầu của ông C đều không đúng (ông C được đi chung lối đi nhưng phải trả tiền cho bà X) nên ông C phải chịu toàn bộ tiền chi phí tố tụng.
  2. [6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn đòi diện tích đất 135m² tổng giá trị là 8.775.000đ không được chấp nhận nên nguyên đơn phải nộp 438.000đ án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước. Yêu cầu được sử dụng lối đi chung của nguyên đơn được chấp nhận nhưng nguyên đơn phải trả tiền cho bị đơn nên nguyên đơn phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm không có giá

ngạch để nộp ngân sách nhà nước. Tổng số tiền án phí DSST nguyên đơn phải nộp là 738.000đ.

  1. [7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, các Điều 38, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 229, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 3, khoản 2 Điều 6 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Diệp Văn C về việc yêu cầu gia đình bà Diệp Thị X phải trả lại diện tích đất 135m² tại thửa đất số 86, tờ bản đồ số 2 bản đồ địa chính xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (trước đây là thửa đất số 32, tờ bản đồ số 422/2).
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Diệp Văn C về việc buộc gia đình bà Diệp Thị X không được quyền cản trở gia đình ông Diệp Văn C sử dụng lối đi vào thửa đất số 86, tờ bản đồ số 2 bản đồ địa chính xã B (trước đây là thửa đất số 32, tờ bản đồ số 422/2). Gia đình ông Diệp Văn C được quyền sử dụng lối đi chung với gia đình bà Diệp Thị X, ông Diệp Xuân T1 và có trách nhiệm trả tiền đất, tiền công tôn tạo lối đi chung cho gia đình bà Diệp Thị X với số tiền là 10.000.000đ (mười triệu đồng). Diện tích lối đi chung là 162,6 m² theo mốc a,b,c,d,a (có sơ đồ trích đo hiện trạng sử dụng đất kèm theo)

Gia đình ông Diệp Văn C và gia đình bà Diệp Thị X có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo diện tích đất thực tế đang sử dụng.

  1. Về chi phí tố tụng: Ông C phải chịu tiền chi phí tố tụng là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), ông C đã nộp đủ.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành, nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành trả lại khoản tiền trên, thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi được xác định theo Điều 357, Điều 468 BLDS tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Diệp Văn C phải chịu 738.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú BìnC4, theo biên lai thu số 0003149 ngày 08/3/2023, Ông Diệp Văn C còn phải nộp 438.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án

dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TA, VKS cấp cao;
  • - VKSND tỉnh;
  • - CCTHADS tỉnh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Hồng Mây

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/DS-ST ngày 06/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp lối đi

  • Số bản án: 11/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp lối đi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp lối đi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger