|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 12/2024/HNGĐ-ST Ngày 13-8-2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Trưởng.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Tặng và ông Trần Đức Đông.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2024/TLST- HNGĐ ngày 11/4/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Dương Thị V, sinh năm 1991; nơi ĐKHKTT: Chanh thôn T, xã V, huyện K, tỉnh Hà Nam. Chỗ ở hiện nay: Số A, đoạn B, đường D, quận D, thành phố Đ, Đài Loan (Trung Quốc). Người đại diện theo uỷ quyền của chị V giao nhận tài liệu, văn bản tố tụng là anh Phạm Tiến Đ - Công ty L và Cộng sự.
- - Bị đơn: Anh Trần Văn C, sinh năm 1987; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: C thôn T, xã V, huyện K, tỉnh Hà Nam.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và lời khai, chị Dương Thị V trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn C có đăng ký kết hôn ngày 10 tháng 12 năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện K, tỉnh Hà Nam. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2017 chị và anh C cùng đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, kể từ đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, mâu thuẫn kéo dài và không thể hàn gắn mặc dù vợ chồng đã nhiều lần được hai bên gia đình động viên, khuyên bảo nhưng không có kết quả, vợ chồng sống ly thân nhiều năm. Nay chị V xác định mâu thuẫn đã rất trầm trọng, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn C.
- - Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Trần Vũ Hoàng D, sinh ngày 26/8/2010 và cháu Trần Thị Thu N, sinh ngày 16/9/2012 hiện nay hai cháu đang ở cùng anh C. Khi ly hôn chị đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
- - Về tài sản chung, công nợ chung và các vấn đề khác: Chị và anh C không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa: Chị V có đơn xin xử vắng mặt. Anh C vắng mặt không có lý do.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam:
- - Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 28, 29, 37 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83, 123 Luật Hôn nhân và gia đình năm năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Xử ly hôn giữa chị Dương Thị V và anh Trần Văn C; Giao cháu Trần Vũ Hoàng D, sinh ngày 26/8/2010 và cháu Trần Thị Thu N, sinh ngày 16/9/2012 cho anh C tiếp tục nuôi dưỡng, Chị V cấp dưỡng nuôi 02 con chung 2.000.000/1 tháng /1 cháu;
Án phí ly hôn sơ thẩm: án phí cấp dưỡng nuôi con chung: Chị V phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận thấy:
[1] Về tố tụng: Chị Dương Thị V đang sống và làm việc tại Đài Loan (Trung Quốc) nên Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam thụ lý giải quyết đơn ly hôn của chị V là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 37 và điểm a khoản 2 Điều 38, Điều 195 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho chị V thông qua anh Phạm Tiến Đ là đại diện theo ủy quyền của chị V. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Dương Thị V đã có lời khai, có đơn xin vắng mặt giải quyết vụ án. Tòa án đã phối hợp với chính quyền địa phương ghi ý kiến của anh C nhưng anh từ chối làm việc, không có mặt theo giấy báo của Toà án. Toà án đã niêm yết văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Dương Thị V và anh Trần Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày ngày 10 tháng 12 năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện K, tỉnh Hà Nam. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2017 do điều kiện kinh tế khó khăn, chị V và anh C cùng đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, kể từ đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng thiếu tin tưởng nhau, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn kéo dài và không thể hàn gắn. Chị V xác định tình cảm không còn đề nghị ly xin ly hôn anh C. Xét, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử ly hôn giữa chị V và anh C là phù hợp với quy định tại điều 56 và điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.
- - Về con chung: Chị V và anh C có 02 con chung là cháu Trần Vũ Hoàng D, sinh ngày 26/8/2010 và cháu Trần Thị Thu N, sinh ngày 16/9/2012, hiện nay hai cháu đang ở với anh C nuôi dưỡng (các cháu không thể hiện rõ nguyện vọng ở với ai). Để đảm bảo cuộc sống, ổn định cũng như môi trường học tập của hai cháu, cần giao cho anh C tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu D và cháu N cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, chị V cấp dưỡng nuôi 02 con chung là 2.000.000/1 tháng /1 cháu là phù hợp với khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.
- - Về tài sản chung, công nợ chung và các vấn đề khác: Chị V xác định anh chị không có tài sản chung, công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[3] Án phí ly hôn sơ thẩm; án phí cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Dương Thị V phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 28, Điều 37, Điều 147, Điều 228, Điều 235, Điều 264, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 469 và Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 121, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Dương Thị V và anh Trần Văn C.
- Về con chung: Giao cháu Trần Vũ Hoàng D, sinh ngày 26/8/2010 và cháu Trần Thị Thu N, sinh ngày 16/9/2012 cho anh Cương trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con đủ 18 tuổi. Chị V cấp dưỡng nuôi 02 con chung là 2.000.000/1 tháng /1 cháu kể từ tháng 9 năm 2024.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí:
Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Dương Thị V phải nộp 300.000đ. Đối trừ số tiền tạm ứng án phí chị V đã nộp đủ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000036 ngày 10/4/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam.
Án phí cấp dưỡng nuôi con chung: Chị V phải nộp 300.000 đồng.
Báo cho anh C vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án; chị V vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Trưởng |
Bản án số 12/2024/HNGĐ-ST ngày 13/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 12/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn, các đương sự bỏ mặc nhau đã lâu
