|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 11/2024/KDTM-PT Ngày: 12/6/2024 V/v Tranh chấp hợp đồng thuê nhà. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Kế Nghiệp
Các Thẩm phán:
Ông Võ Minh Triều
Bà Trần Thị Trâm Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Quỳnh Trâm - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 06/TLPT-KDTM ngày 02 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê nhà”.
Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 06/2024/KDTM-ST ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 07/2024/QĐXXPT-KDTM ngày 08 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH N3
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Thu T – Giám đốc
Địa chỉ: Hẻm F T, khu phố G, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (có mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Chí N, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang
- Bị đơn: Công ty TNHH D
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Công N1 - Giám đốc
Địa chỉ: Số F T, khu phố G, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:
- Ông Chiêm Hoàng O, sinh năm 1979 (có mặt)
- Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1997 (có mặt)
Địa chỉ: Lô F căn A hẻm I N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Địa chỉ: Số B tầng A, đường N, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1984 (có mặt)
- Ông Nguyễn Công N1, sinh năm 1992 (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố 8, phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang
Địa chỉ: Khu phố E, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang
Người đại diện theo ủy quyền của ông N1: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1997 (có mặt)
Địa chỉ: Số B tầng A, đường N, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang
- Người kháng cáo: Công ty TNHH D
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Ông Nguyễn Chí N là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty TNHH N3 trình bày:
Vào ngày 10/7/2023, Công ty TNHH D có ký kết với Công ty TNHH N3 thuê căn nhà 09 tầng trên thửa đất 215,4m², tại đường T, khu phố G, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (Hợp đồng thuê nhà số: 01/2023/HĐTN-STELLAR ngày 10/7/2023) do bà Nguyễn Thị Thu T là cá nhân đứng tên quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 175464 cấp cho bà Nguyễn Anh N2 vào ngày 07/11/2019, được chỉnh lý biến động tên Nguyễn Thị Thu T ngày 24/7/2020. Thời hạn thuê 05 năm, từ ngày 10/7/2023 đến ngày 09/7/2028. Giá thuê 5.000.000 đồng mỗi tháng.
Việc hai bên ký kết hợp đồng nêu trên là do trong năm 2021, bà T có làm ăn và vay nợ của ông N1. Từ tháng 6/2023 đến nay vì lý do làm ăn kinh tế khó khăn nên bà T thỏa thuận chuyển nhượng khách sạn Stellar và quyền sử dụng đất 215,4m² nêu trên cho ông N1 với giá 65.000.000.000 đồng (Sáu mươi lăm tỷ), việc thỏa thuận chuyển nhượng chỉ giao kết bằng lời nói. Vào ngày 07/7/2023, ông N1 có chuyển cho bà T số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ) để đặt cọc việc chuyển nhượng. Để đảm bảo cho ông N1 huy động vốn bên ngoài, ông N1 yêu cầu bà T phải lập Hợp đồng thuê nhà số 01/2023/HĐTN-STELLAR ngày 10/7/2023 nhưng các bên không có thực hiện quyền và nghĩa vụ với nhau, bởi vì giá thuê căn nhà, đất tại hẻm F T (khách sạn 09 tầng, đang kinh doanh dịch vụ lưu trú, trang thiết bị hoàn chỉnh) với giá 5.000.000 đồng (năm triệu) là không đúng thực tế; quyền sử dụng đất là của bà T, không phải của công ty; thỏa thuận hợp đồng thuê nhà là giả tạo, xuất phát từ việc vay của cá nhân ông N1 và bà T; hợp đồng thuê nhà ngày 10/7/2023 nhằm mục đích làm tin cho bên thuê huy động vốn để nhận chuyển nhượng đất của bà T. Hiện tại ông N1 là đại diện Công ty TNHH D cố tình chiếm giữ khách sạn trái pháp luật.
Toàn bộ tài sản trên đất không có gì thay đổi, phía Công ty TNHH D không xây dựng gì thêm. Do hiện trạng không khác gì so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên nguyên đơn không yêu cầu Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ. Không yêu cầu định giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất.
Ông Nguyễn Chí N yêu cầu Tòa án giải quyết:
Tuyên vô hiệu hợp đồng thuê nhà ngày 10/7/2023 giữa Công ty TNHH N3 và Công ty TNHH D.
Buộc Công ty TNHH D giao trả cho nguyên đơn toàn bộ quyền sử dụng đất và công trình trên thửa đất số 91, tờ bản đồ 103, tại khu phố G, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
- Ông Chiêm Hoàng O đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty TNHH D trình bày:
Không đồng ý toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Việc ký kết và thực hiện hợp đồng thuê giữa bị đơn và nguyên đơn đều đúng quy định pháp luật. Công ty TNHH D đã tiếp nhận, quản lý, sử dụng tài sản thuê đúng quy định, đúng thỏa thuận nên đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng thuê nhà ngày 10/7/2023 theo yêu cầu của nguyên đơn.
Ngoài ra, đối với diện tích đất 215,4m² này ông N1 đã thỏa thuận nhận chuyển nhượng đất và tài sản trên đất với bà T với tư cách là cá nhân với nhau, các bên thỏa thuận chuyển nhượng tổng giá trị 50.000.0000.000 đồng (năm mươi tỷ đồng), đã ký hợp đồng đặt cọc và đã giao số tiền cọc 32.000.000.000 đồng (ba mươi hai tỷ) cho bà T ngày 23/6/2023, thỏa thuận sau hai tháng các bên ra công chứng chuyển nhượng nhưng bà T không thực hiện đúng thỏa thuận nên ông N1 không giao hết số tiền thỏa thuận còn lại. Hiện ông N1 đã nộp đơn khởi kiện bà T tại Tòa án Phú Quốc đối với hợp đồng đặt cọc ngày 23/6/2023 này.
Về hiện trạng đất thì phía Công ty TNHH N3 đã bàn giao quyền sử dụng đất và căn nhà trên đất gồm 09 tầng (gồm 08 tầng lầu, 01 tầng trệt) được xây dựng trên toàn bộ diện tích đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 175464 đứng tên Nguyễn Anh N2 đã được xác nhận chuyển nhượng cho bà T ngày 24/7/2020 và cho Công ty TNHH D quản lý sử dụng từ ngày ký hợp đồng đến nay.
Toàn bộ tài sản trên đất không có gì thay đổi, phía Công ty TNHH D không xây dựng gì thêm. Do hiện trạng không khác gì so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bị đơn không yêu cầu Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ. Không yêu cầu định giá tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu T trình bày:
Bà Nguyễn Thị Thu T là Giám đốc Công ty TNHH N3, đồng thời cũng là chủ sử dụng quyền sử dụng đất diện tích 215,4m², tại khu phố G, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 175464 cấp cho bà Nguyễn Anh N2 vào ngày 07/11/2019 được chỉnh lý biến động tên Nguyễn Thị Thu T ngày 24/7/2020.
Vào tháng 6/2021, bà T có vay của ông N1 số tiền 20.000.000.000 đồng (hai mươi tỷ), lãi suất 7%/tháng, bà T đã đóng lãi từ tháng 06/2021 đến năm 2023 (tức 1.400.000.000 đồng/tháng). Từ tháng 6/2023 đến nay vì lý do làm ăn kinh tế khó khăn, nên thỏa thuận chuyển nhượng khách sạn S và quyền sử dụng đất 215,4m² nêu trên cho ông N1 với giá 65.000.000.000 đồng (Sáu mươi lăm tỷ), việc thỏa thuận chuyển chỉ giao kết bằng lời nói (tại buổi làm việc tại trụ sở Công an phường D ông N1 thừa nhận việc chuyển nhượng này). Sau đó, ông N1 có chuyển cho bà T số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ) ngày 07/7/2023 để đặt cọc việc chuyển nhượng.
Để đảm bảo cho ông N1 huy động vốn bên ngoài, ông N1 yêu cầu lập Hợp đồng thuê nhà số 01/2023/HĐTN-STELLAR ngày 10/7/2023 giữa Công ty TNHH N3 với Công ty TNHH D với mục đích cho Công ty TNHH D thuê quyền sử dụng đất và căn nhà trên đất kinh doanh dịch vụ lưu trú, thời hạn 05 năm (từ ngày 10/7/2023 đến ngày 09/7/2028). Trên thực tế giữa Công ty TNHH N3 với Công ty TNHH D không có thực hiện quyền và nghĩa vụ với nhau như trong Hợp đồng thuê nhà ngày 10/7/2023 được ký kết, bởi giá thuê căn nhà, đất tại hẻm F T (đối với khách sạn có công trình kinh doanh khách sạn, dịch vụ lưu trú, trang thiết bị hoàn chỉnh, có 09 tầng) với giá 5.000.000 đồng (năm triệu) là không đúng thực tế; bên thuê không thực hiện nghĩa vụ trả tiền thuê ... Hai bên ký kết Hợp đồng thuê nhà ngày 10/7/2023 nhằm mục đích làm tin cho bên thuê huy động vốn, việc ký kết thỏa thuận này cũng nhằm che giấu một giao dịch dân sự trước đó (Giao dịch bị che giấu là chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa tôi và ông N1) nên giao kết Hợp đồng thuê nhà ngày 10/7/2023 không có giá trị pháp lý. Hiện tại ông N1 là đại diện Công ty TNHH D cố tình chiếm giữ khách sạn trái pháp luật, trong khi tài sản bà đang đứng tên hợp pháp. Bà T đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật, không yêu cầu độc lập trong vụ án này.
- Bà Nguyễn Thị Thu H - người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Công N1 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Bà H không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà H cho rằng các bên đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng, bị đơn đã thanh toán tiền đặt cọc cho nguyên đơn và nhận khách sạn để quản lý từ ngày 10/7/2023 đến nay. Sau khi tiếp nhận khách sạn, Công ty TNHH D đã thay nguyên đơn thực hiện thanh toán các chi phí điện, nước, Internet, phòng cháy chữa cháy, đảm bảo an ninh trật tự khoảng 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) để tiếp tục kinh doanh khách sạn. Bị đơn không có yêu cầu phản tố và xem xét yêu cầu xử lý hậu quả của hợp đồng thuê nhà ngày 10/7/2023 bị vô hiệu.
Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 06/2024/KDTM-ST ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH N3.
Tuyên bố Hợp đồng thuê nhà ngày 10/7/2023 giữa Công ty TNHH N3 và Công ty TNHH D vô hiệu.
Buộc Công ty TNHH D giao trả cho nguyên đơn toàn bộ quyền sử dụng đất và công trình trên thửa đất số 91, tờ bản đồ 103, tại khu phố G, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và báo quyền kháng cáo theo hạn luật định.
Ngày 25/3/2024 bị đơn Công ty TNHH D kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn Công ty TNHH N3 trình bày:
Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên án sơ thẩm.
- Bị đơn Công ty TNHH D trình bày:
Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng công nhận hợp đồng thuê nhà giữa Công ty TNHH N3 và Công ty TNHH D.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của các đương sự tham gia tố tụng ở giai đoạn phúc thẩm, chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên vô hiệu hợp đồng thuê nhà giữa Công ty TNHH N3 và Công ty TNHH D là có căn cứ vì không đúng về chủ thể ký kết hợp đồng, tại phiên tòa phúc thẩm phát sinh thêm tình tiết mới là Công ty TNHH D có cho bên thứ ba thuê lại và bên thứ ba có yêu cầu xử lý hậu quả nếu hợp đồng vô hiệu, tuy nhiên tại cấp sơ thẩm nguyên đơn và bị đơn không trình bày việc cho thuê lại nên cấp sơ thẩm không đưa tham gia tố tụng. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, tuyên hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Về tố tụng: Xét đơn kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH D về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị đơn theo trình tự phúc thẩm.
- [2] Xét kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH Dịch vụ Du lịch Nam Bảo Long
- [3] Xét yêu cầu bổ sung người tham gia tố tụng:
- [4] Theo quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “Giao dịch dân sự bị vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập; khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận”.
- [5] . Về án phí:
Bị đơn kháng cáo yêu cầu bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH N3. Về chủ thể giao kết hợp đồng: Công ty TNHH N3 và Công ty TNHH D là các pháp nhân kinh doanh giao kết Hợp đồng thuê nhà số: 01/2023/HĐTN-STELLAR để thuê căn nhà trên diện tích đất 215,4m², tại khu phố G, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Tuy nhiên, theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (đăng ký thay đổi lần 2 ngày 23/9/2022) của Công ty TNHH N3 thì công ty chỉ có vốn điều lệ là 50.000.000.000 đồng, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp không thể hiện công ty có tài sản là nhà, đất, do đó công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty T1 đã đăng ký được quy định tại khoản 1 Điều 74 Luật doanh nghiệp 2020. Quyền sử dụng đất và công trình trên thửa đất số 91, tờ bản đồ số 103, diện tích 215,4m², tại khu phố G, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang không thuộc sở hữu của công ty; tại thời điểm giao kết hợp đồng thì quyền sử dụng đất và căn nhà trên đất thuộc quyền sử dụng của bà T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 175646 ngày 07/11/2019 được xác nhận biến động cho bà Nguyễn Thị Thu T ngày 24/7/2020, đây là tài sản riêng của bà T, không là tài sản công ty. Do vậy, Công ty TNHH N3 không có quyền cho thuê đối với tài sản không thuộc sở hữu của công ty, nên hợp đồng thuê nhà số: 01/2023/HĐTN-STELLAR giữa Công ty TNHH N3 và Công ty TNHH D vô hiệu ngay từ thời điểm giao kết do không đảm bảo điều kiện về chủ thể thực hiện giao dịch theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 117, Điều 122, Điều 408 Bộ luật Dân sự năm 2015. Khoản 1 Điều 74, khoản 4 Điều 77 Luật Doanh nghiệp năm 2020.
Tại cấp phúc thẩm Công ty TNHH D có yêu cầu đưa Ngân hàng B tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Hội đồng xét xử xét thấy là không cần thiết, bởi lẽ vụ kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng B và bà Nguyễn Thị Thu T đã được Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc thụ lý, giải quyết trong vụ án khác và chủ thể tranh chấp với ngân hàng B là cá nhân bà Thu T, không phái pháp nhân Công ty TNHH N3 nên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án này.
Xét thấy, trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, Tòa cấp sơ thẩm đã thông báo với bị đơn về quyền thực hiện yêu cầu phản tố và hỏi bị đơn về việc có cho thuê lại khách sạn với bên thứ ba hay không, bị đơn đều khẳng định bị đơn hiện đang quản lý, sử dụng khách sạn và không cho thuê lại tài sản và bị đơn không có yêu cầu phản tố.
Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, có phát sinh tình tiết mới là ông Nguyễn Phấn K, sinh năm 1991; địa chỉ số A N, phường V, TP ., tỉnh Kiên Giang có đơn đề nghị, đơn khiếu nại với yêu cầu đưa ông tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và cung cấp hợp đồng thuê khách sạn ngày 20/8/2023 giữa ông với bị đơn Công ty TNHH D về việc ông được cho thuê lại tầng lửng và tầng 01 khách sạn STELLAR làm văn phòng làm việc. Theo chứng cứ ông K cung cấp và hồ sơ vụ án thể hiện: Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý vụ án ngày 08/8/2023, đến ngày 20/8/2023 Công ty TNHH D giao kết hợp đồng cho thuê lại với ông Nguyễn Phấn K, tuy hợp đồng được ký kết tại thời điểm Tòa án đang giải quyết tranh chấp nhưng không trái với thỏa thuận “bên thuê có quyền cho bên thứ ba thuê lại không cần sự đồng ý của bên cho thuê” trong hợp đồng thuê nhà giữa Công ty TNHH N3 và Công ty TNHH D.
Đồng thời, tại biên bản lấy lời khai ngày 27/5/2024 ông K yêu cầu được bồi thường tiền sơn sửa chống thấm 155.000.000 đồng, trả lại tiền ông đã đặt cọc 100.000.000 đồng và bồi thường do chấm dứt hợp đồng trước thời hạn 100.000.000 đồng. Tổng cộng các khoản là 355.000.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm bà T yêu cầu giữ nguyên án sơ thẩm và cho rằng việc bồi thường cho bên thứ ba thuê lại bà sẽ tự thỏa thuận; về phía bị đơn cho rằng tiền sơn, sửa, chống thấm là do bị đơn bỏ ra, không phải do bên thứ ba chi trả. Việc ông K yêu cầu phạt cọc 100.000.000 đồng bị đơn không đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy việc giải quyết tranh chấp hợp đồng thuê nhà giữa Công ty TNHH N3 và Công ty TNHH D ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của bên thứ ba là ông Nguyễn Phấn K. Do vậy, cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm để đưa ông K tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mới đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và đảm bảo thi hành án. Đây là tình tiết mới phát sinh tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm không có lỗi.
Từ khi ký kết hợp đồng thuê đến nay, bên thuê đã nhận nhà và quyền sử dụng đất để kinh doanh dịch vụ lưu trú khách sạn, cấp sơ thẩm tuyên buộc Công ty TNHH D giao trả lại cho Công ty TNHH N3 căn nhà trên quyền sử dụng đất diện tích 215,4m², tại khu phố G, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang là chưa phù hợp chủ sở hữu vì tài sản cho thuê là tài sản của cá nhân bà Nguyễn Thị Thu T, không là tài sản Công ty TNHH N3, hồ sơ vụ án tại cấp sơ thẩm không thể hiện bà Nguyễn Thị Thu T - người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đòi lại tài sản, do đó cần làm rõ có hay không yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Thu T để khi xử lý hậu quả hợp đồng vô hiệu, tuyên trả lại tài sản cho phù hợp chủ sở hữu.
Bà H cho rằng không có thanh toán tiền thuê theo hợp đồng nhưng Công ty TNHH D đã thực hiện các công việc như thanh toán tiền lương cho nhân viên, tiền điện, nước, internet, công tác phòng cháy, chữa cháy, đảm bảo an ninh trật tự ... khoảng 100.000.000 đồng. Quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, bà H, ông N không yêu cầu xem xét, giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu do đó cấp sơ thẩm không xem xét là phù hợp quy định pháp luật. Trường hợp các đương sự có tranh chấp thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác.
Qua thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất theo đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, hủy bản án sơ thẩm giao hồ sơ về Tòa án nhân dân TP. Phú Quốc thụ lý, giải quyết lại theo quy định chung.
Án phí sơ thẩm: Do hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm nên nghĩa vụ chịu án phí được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Án phí phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị hủy nên Công ty TNHH D không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, khoản 2 Điều 310, khoản 3 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
- Hủy Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 06/2024/KDTM-ST ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang
- Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang để thụ lý, giải quyết lại theo quy định chung.
- Về án phí:
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Án phí sơ thẩm: Do hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm nên nghĩa vụ chịu án phí được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Án phí phúc thẩm: Hoàn trả cho Công ty TNHH D tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) theo biên lai thu số 0000032 ngày 03/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự TP. Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Kế Nghiệp |
Bản án số 11/2024/KDTM-PT ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng thuê nhà
- Số bản án: 11/2024/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê nhà
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngọc Dung Đ tranh chấp Hợp đồng thuê nhà với Nam Bảo L
