Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TÂN CHÂU

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 11/2024/DS-ST

Ngày: 17-4-2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Dẫm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hồ Văn Úc;
  2. Ông Nguyễn Thành Lil

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Cảnh – là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 152/2023/TLST-DS ngày 17 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lê Hữu Đ, sinh năm 1965; Nơi cư trú: Tổ B, ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).

Bị đơn: Bà Nguyễn Ngọc Á, sinh năm 1967; Nơi cư trú: Số B, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện ngày 03/7/2023, bổ sung ngày 08/11/2023, các lời khai tại Tòa án và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Lê Hữu Đ trình bày:

Vào khoảng ngày 17/7/2019, bà Nguyễn Ngọc Á có hỏi vay của ông Đ số tiền 100.000.000 đồng để làm ăn, với lãi suất 3%/tháng, không quy định thời hạn trả lại vốn, khi nào ông Đ có yêu cầu thì báo trước bà Á 01 tháng để lo trả lại vốn, khi vay các bên không có làm hợp đồng, chỉ thỏa thuận bằng lời nói và có làm biên nhận ngày 17/7 không ghi năm. Quá trình thực hiện, bà Á có trả lãi cho ông Đ đầy đủ cho đến tháng 11/2022 thì không trả lãi nữa và cũng không trả số tiền nợ vốn cho ông Đ.

Ông Đ yêu cầu bà Á trả cho ông Đ số tiền nợ vốn vay còn lại 100.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi phát sinh.

Ngày 08/11/2023, ông Đ khởi kiện bổ sung yêu cầu bà Á trả cho ông Đ số tiền vốn vay là 100.000.000 đồng và tính lãi theo quy định pháp luật kể từ tháng 01/2023 cho đến khi xét xử và đồng ý điều chỉnh lãi theo quy định pháp luật đối với số tiền lãi đã thu.

2. Bị đơn bà Nguyễn Ngọc Á trình bày:

Bà Á thừa nhận có vay của ông Đ số tiền vốn là 100.000.000 đồng, vay vào ngày 17/7/2018 (không phải như lời trình bày trên của ông Đ là ngày 17/7/2019), có trả lãi với mức lãi suất là 3%/tháng và trả đến tháng 11/2022 với tổng thời gian là 53 tháng bằng 159.000.000 đồng thì không trả lãi nữa. Tại biên nhận ngày 17/7, bà Á xác định là năm 2018, vì sau đó có ghi lấy thêm 50.000.000 đồng vào ngày 08/8/2019.

Bà Á yêu cầu truy thu lại số tiền lãi trên theo quy định pháp luật, nếu số tiền lãi đã trả cao hơn số vốn thì không yêu cầu ông Đ phải trả lại; trường hợp còn phải trả vốn tiếp tục thì xin khi nào làm có tiền thì trả cho ông Đ.

Tại phiên tòa hôm nay:

Ông Đ yêu cầu tính lãi phát sinh theo quy định pháp luật của số tiền vốn vay còn lại kể từ ngày 01/01/2023 cho đến ngày xét xử, các yêu cầu khác vẫn giữ nguyên; bị đơn, bà Á vẫn giữ nguyên ý kiến và các bên đương sự không yêu cầu giao nộp thêm tài liệu chứng cứ.

* Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

  • - Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Đối với người tham gia tố tụng: Các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều 70; Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản xác lập giữa các bên. Các bên thực hiện việc vay không xác lập hợp đồng chỉ thỏa thuận qua lời nói được thể hiện thông qua tờ giấy viết tay lập ngày 17/7 (không ghi năm).

Theo biên nhận ngày 17/7 ông Đ cho rằng bà Á vay của ông Đ số tiền 100.000.000 đồng vào ngày 17/7/2019 với số tiền là 100.000.000 đồng. Tài liệu, chứng cứ là tại biên nhận ngày 17/7 (không ghi năm, trên cùng trang giấy) thì kế tiếp bà Á có vay thêm số tiền 50.000.000 đồng có thể hiện ngày 08/8/2019 (gần 01 tháng sau). Trong quá trình tố tụng, ông Đ thừa nhận có cho bà Á vay số tiền 100.000.000 đồng vào ngày 17/7/2018 và đã có lấy tiền lãi do bà Á trả, nay ông Đ cho rằng cho bà Á vay vào ngày 17/7/2019. Lý do nhầm lẫn.

Về tiền lãi, ông Đ đồng ý điều chỉnh khấu trừ lãi theo quy định pháp luật đối với số tiền lãi bà Á trả cho ông Đ với lãi suất 3%/tháng từ ngày bà Á vay của ông Đ số tiền 100.000.000 đồng vào ngày 17/7/2019 đến ngày 17/12/2022, đồng thời yêu cầu tính lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định pháp luật kể từ sau ngày 01/01/2023 đến ngày xét xử.; bị đơn, bà Á có yêu cầu điều chỉnh lãi suất theo quy định pháp luật kể từ 17/7/2018 đến ngày 17/11/2022. Đề nghị Hội đồng xét xử điều chỉnh lãi suất theo quy định pháp luật của các thời điểm vay (ngày 17/7/2018) đến ngày 17/11/2022 và tính lãi phát sinh theo quy định pháp luật đối với số nợ vốn còn lại sau khi khấu trừ vốn kể từ ngày 01/01/2023 cho đến ngày xét xử.

8. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các đương sự phải chịu án phí dân sự theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về tố tụng:
    1. [1.1] Về thẩm quyền: Vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản, bị đơn bà Nguyễn Ngọc Á; Nơi cư trú: Số B, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Do đó, Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu thụ lý, giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
    2. [1.2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và pháp luật áp dụng để giải quyết: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tranh chấp hợp đồng vay tài sản nên quan hệ tranh chấp trong vụ kiện này là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”;
    3. [1.3] Về thời hiệu khởi kiện: Giao dịch dân sự về hợp đồng vay tài sản được xác lập năm 2018, nguyên đơn có nhận tiền lãi đến tháng 11/2022. Căn cứ Điều 429 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án vẫn còn thời hiệu.
  2. [2] Về nội dung vụ án: Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; lời khai của các đương sự. Xác định vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản được xác lập giữa các bên. Các bên không thực hiện xác lập hợp đồng mà thỏa thuận bằng lời nói và xác lập trên cơ sở tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không trái quy định pháp luật nên phát sinh quyền và nghĩa vụ các bên.
    1. [2.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn ông Đ yêu cầu bị đơn bà Á có nghĩa vụ thanh toán số tiền vốn vay là: 100.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi; ngày 08/11/2023, nguyên đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu bà Á có trách nhiệm trả số tiền vốn là 100.000.000 đồng và lãi phát sinh từ ngày 01/01/2023 cho đến ngày xét xử theo quy định pháp luật. Đồng ý khấu trừ tiền lãi đã thu đối với lãi phải thu theo quy định pháp luật kể từ ngày 17/7/2019 đến tháng 11/2023 được khấu trừ vào tiền vốn vay; bị đơn, bà Á xác nhận có vay tiền của ông Đ 100.000.000 đồng vào ngày 17/7/2018 có trả lãi với mức lãi suất là 3%/tháng và trả đến tháng 11/2022 thì không trả lãi nữa, bà Á yêu cầu truy thu chênh lệch lãi đã trả so với quy định pháp luật khấu trừ vào vốn vay kể từ ngày 17/7/2018 đến ngày 17/11/2022, sau khi khấu trừ nếu còn nợ vốn thì xin trả dần, nếu có vượt số vốn vay thì bà Á không yêu cầu nhận lại.

Tại biên nhận ngày 17/7 (không ghi năm, cùng trang giấy) do ông Đ cung cấp và cho rằng cho bà Á vay 100.000.000 đồng vào ngày 17/7/2019 thì kế tiếp bà Á có vay thêm số tiền 50.000.000 đồng có thể hiện ngày 08/8/2019 (gần 01 tháng sau). Trong quá trình tố tụng, ông Đ thừa nhận có cho bà Á vay số tiền 100.000.000 đồng vào ngày 17/7/2018 và đã có lấy tiền lãi do bà Á trả, nay ông Đ cho rằng cho bà Á vay vào ngày 17/7/2019. Lý do nhầm lẫn là không có cơ sở; mặt khác, ông Đ đã thừa nhận có nhận tiền lãi do bà Á trả kể từ khi cho bà Á vay số tiền 100.000.000 đồng từ ngày 17/7/2018 đến tháng 11/2022 và ông Đ không chứng minh được việc chỉ cho bà Á vay 100.000.000 đồng kể từ ngày 17/7/2019; mặt khác, tại biên bản đối chất ngày 07/11/2023 (bút lục số 47), ông Đ xác nhận có nhận tiền lãi của bà Á kể từ ngày 17/7/2018 đến tháng 11/2022. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử khấu trừ lãi theo quy định pháp luật thời gian kể từ ngày 17/7/2018 đến ngày 17/11/2022 và tính lãi phát sinh theo quy định pháp luật đối với số tiền vốn còn lại (sau khi đã điều chỉnh lãi) kể từ ngày 01/01/2023 cho đến ngày xét xử (theo yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông Đ).

  1. [4] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tiền lãi: Đối với lãi tiền vay phải điều chỉnh từ mức lãi 3%/tháng về mức 1,67%/tháng (Lãi theo quy định pháp luật 20%/năm) của các lần vay từ ngày 17/7/2018 cho đến ngày 17/11/2022 cụ thể như sau:

  • - Từ ngày 17/7/2018 đến 17/12/2018 là 05 tháng bằng 15.000.000 đồng;

100.000.000 đồng X 05 tháng X 1,67% = 8.350.000 đồng;

Lãi vượt khấu trừ vốn: 15.000.000 đồng – 8.350.000 đồng = 6.650.000 đồng.

100.000.000 đồng – 6.650.000 đồng = 93.350.000 đồng.

  • - Từ ngày 17/12/2018 đến 17/12/2019 là 12 tháng bằng 36.000.000 đồng;

93.350.000 đồng X 12 tháng X 1,67% = 18.707.340 đồng;

Lãi vượt khấu trừ vốn: 36.000.000 đồng – 18.707.340 đồng = 17.292.660 đồng. 93.350.000 đồng – 17.292.660 đồng = 76.057.340 đồng.

  • - Từ ngày 17/12/2019 đến 17/12/2020 là 12 tháng bằng 36.000.000 đồng;

76.057.340 đồng X 12 tháng X 1,67% = 15.241.891 đồng;

Lãi vượt khấu trừ vốn: 36.000.000 đồng – 15.241.891 đồng = 20.758.109 đồng. 76.057.340 đồng – 20.758.109 đồng = 55.299.234 đồng.

  • - Từ ngày 17/12/2020 đến 17/12/2021 là 12 tháng bằng 36.000.000 đồng;

55.299.234 đồng X 12 tháng X 1,67% = 11.081.966 đồng;

Lãi vượt khấu trừ vốn: 36.000.000 đồng – 11.081.966 đồng = 24.918.034 đồng. 55.299.234 đồng – 24.918.034 đồng = 30.381.200 đồng

  • - Từ ngày 17/12/2021 đến 17/11/2022 là 11 tháng bằng 33.000.000 đồng;

30.381.200 đồng X 11 tháng X 1,67% = 5.581.026 đồng;

Lãi vượt khấu trừ vốn: 33.000.000 đồng – 5.581.026 đồng = 27.800.391 đồng. 30.381.200 đồng – 27.800.391 đồng = 2.580.809 đồng.

  • - Từ ngày 01/01/2023 đến ngày 17/4/2024 (xét xử) = (2.580.809 đồng X 467 ngày X 1,67%) : 30 ngày = 670.704 đồng. Tổng cộng vốn và lãi còn lại đến ngày 17/4/2024 là: 2.580.809 đồng + 670.704 đồng = 3.260.513 đồng.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông Đ yêu cầu bà Á có trách nhiệm trả cho ông Đ số tiền vay vốn và lãi vay còn lại đến ngày 17/4/2024 là 3.260.513 đồng.

Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đ đối với số tiền vốn vay còn lại là 96.739.487 đồng.

  1. [5] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận một phần: Bà Á chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng; .

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông Đ không được chấp nhận một phần: Ông Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 96.739.487 đồng x 5% bằng 4.836.974 đồng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.500.000 đồng, số còn lại 2.336.974 đồng Đ phải nộp thêm.

  1. [6] Qua phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật về quan điểm giải quyết vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, các điều 144, 147, 244, 271, khoản 2 Điều 227 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 351; Điều 463; Điều 466; Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 5 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9 và Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông Lê Hữu Đ. Buộc bà Nguyễn Ngọc Á có trách nhiệm trả cho ông Lê Hữu Đ số tiền là 3.260.513 (ba triệu hai trăm sáu mươi nghìn năm trăm mười ba) đồng.
  2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông Lê Hữu Đ đối với yêu cầu bà Nguyễn Ngọc Á trả số tiền vốn vay còn lại là 96.739.487 (chín mươi sáu triệu bảy trăm ba mươi chín nghìn bốn trăm tám mươi bảy) đồng.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    1. Bà Nguyễn Ngọc Á chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
    2. Ông Lê Hữu Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 4.836.974 (bốn triệu tám trăm ba mươi sáu nghìn chín trăm bảy mươi bốn) đồng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.500.000 đồng theo biên lai thu số 0007082 ngày 09 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, số còn lại 2.336.974 (hai triệu ba trăm ba mươi sáu nghìn chín trăm bảy mươi bốn) đồng ông Lê Hữu Đ phải nộp thêm.
  2. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật thi hành án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND TX Tân Châu;
  • - Chi cục THADS TX Tân Châu;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hữu Dẫm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/DS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 11/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Lê Hữu Đ tranh chấp hợp đồng vay tài sản với Bà Nguyễn Ngọc Á
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger