Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRÙNG KHÁNH

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HSST

Ngày: 21 - 3- 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mã Thị Diệu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phương Văn Tư và ông Hoàng Văn Học.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Ly - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Triệu Văn T, tên gọi khác: không có, sinh ngày 05/8/1974 tại xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Xóm Đ, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng; dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: trồng trọt; trình độ học vấn: 03/12; tôn giáo: không; con ông Triệu Văn S, sinh năm 1949 và bà Nông Thị T1, sinh năm 1951; Vợ: Triệu Thị N, sinh năm 1977 và có 03 con, con lớn tuổi nhất sinh năm 1995, con nhỏ tuổi nhất sinh năm 2005;

Tiền án, tiền sự: không có;

Nhân thân: Ngày 20/9/2007 bị Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử 07 năm tù về Tội mua bán trái phép chất ma tuý, quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, theo Bản án số 56/2007/HSST ngày 20/9/2007.

Ngày 19/3/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng xét xử 03 năm tù về Tội vận chuyển hàng cấm, quy định tại khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự, theo Bản án số 09/2019/HSST ngày 19/3/2019. Ngày 30/5/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử phúc thẩm, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm, theo Bản án số 22/2019/HS-PT ngày 30/5/2019.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/10/2024 đến nay; hiện nay đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực huyện T, trại giam Công an tỉnh C; có mặt tại phiên tòa.

2

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Triệu Thị N, sinh năm 1977; nơi thường trú: Xóm Đ, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng; có mặt.

- Người làm chứng: Vi Văn C, sinh năm 1985, nơi thường trú: Xóm K, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 19 giờ 30 ngày 02/10/2024, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma tuý Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng phối hợp với tổ công tác Công an xã C, huyện T và Đồn Biên phòng Đ, Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh C đang làm nhiệm vụ tại xóm Đ, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Khi đến khu vực trước nhà ông Triệu Văn T, tổ công tác phát hiện 01 người đàn ông có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma tuý. Tiến hành kiểm tra, xác định người đàn ông tên là Triệu Văn T, sinh năm 1974, trú tại xóm Đ, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Phát hiện và tạm giữ trong túi quần phía trước bên trái chiếc quần T đang mặc có 01 gói nhỏ được gói bằng ni lông màu trắng, bên trong là lớp giấy trắng có dòng kẻ, trong cùng là các cục chất bột màu trắng. T khai nhận số chất bột màu trắng trên là Heroine của T mua về sử dụng và bán kiếm lời. Ngoài ra, còn tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, màn hình cảm ứng, điện thoại đã qua sử dụng, số imeil 1: 864555041190818, số imei 2: 864555041190800. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng theo đúng quy định của pháp luật.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành khám xét chỗ ở của Triệu Văn T, phát hiện và tạm giữ tại đầu giường ngủ đặt tại tầng âm nhà của Triệu Văn T 03 gói nhỏ được gói băng giấy trắng có dòng kẻ ngang, bên trong các gói có chứa các cục chất bột màu trắng, Ngoài ra còn phát hiện và tạm giữ 10.750.000 đồng, 01 dao lam đã qua sử dụng, 01 tờ giấy lịch có nhiều màu sắc đã bị xé rách, 01 quyển vở và 01 ống nhựa nhỏ màu trắng.

Ngày 03/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành mở niêm phong cần xác định khối lượng vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại. Kết quả cân số chất bột màu trắng thu giữ đối với Triệu Văn T khi bắt quả tang có khối lượng 0,86 gam, thu giữ khi khám xét có khối lượng 1,04 gam. Tổng số chất bột màu trắng thu giữ đối với Triệu Văn T có khối lượng 1,90 gam. Tại kết luận giám định số 550/KL - KTHS ngày 11/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: 02 mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.

Tại cơ quan điều tra, Triệu Văn T khai nhận: Số chất bột màu trắng thu giữ khi bắt quả tang và khám xét là Heroine của T mua về sử dụng và bán kiếm lời. T thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý từ khoảng cuối tháng 9 năm 2024. Địa điểm bán ma túy là ở sân phía trước cửa nhà T, người mua ma túy gọi điện cho T trước để hỏi mua rồi mới đến gặp T để mua ma túy. T được bán ma túy cho Vi Văn C, sinh năm 1985, trú tại xóm K, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng

3

02 lần, mỗi lần bán 1.000.000 đồng, lần thứ nhất vào ngày 29/9/2024, lần thứ hai vào trưa ngày 02/10/2024. Hai lần này T đã nhận được tiền từ Cương.

Tại bản Cáo trạng số 11/CT-VKSTK ngày 20/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng đã truy tố Triệu Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận nội dung bản Cáo trạng phản ánh đúng các hành vi phạm tội của mình.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Triệu Thị N khai: Bà là vợ của bị cáo Triệu Văn T, sau khi Công an khám nhà đã tạm giữ số tiền 10.000.000 đồng, đây là tiền của bà do bán ngô, bán lợn có được, bị cáo không có đóng góp gì nên mong Hội đồng xét xử trả lại cho bà.

Người làm chứng Vi Văn C vắng mặt tại phiên tòa, có lời khai tại cơ quan điều tra như sau: Anh được mua ma túy với Triệu Văn T 03 lần, lần thứ nhất vào ngày 27/9/2024 với số tiền 1.000.000 đồng, lần thứ hai vào ngày 29/9/2024 với số tiền 1.000.000 đồng và lần thứ 03 vào buổi trưa ngày 02/10/2024 với số tiền 1.000.000 đồng. Các lần mua ma túy anh đều gọi điện thoại cho T trước để hỏi sau đó giao dịch mua bán tại sân nhà bị cáo T.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Triệu Văn T như Cáo trạng. Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Triệu Văn T từ 07 năm 3 tháng đến 08 năm 3 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng, áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng vụ Triệu Văn T - Mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra tại xóm Đ- C- huyện T- Cao Bằng ngày 02/10/2024”; 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Số 550/KL- KTHS Hoàn mẫu vụ Triệu Văn T, mua bán trái phép chất ma túy”, mặt sau phong bì niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng 04 (bốn) hình con dấu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh C; 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng (dao lam, giấy lịch, ống nhựa, quyển vở) phát hiện, thu giữ khi khám xét chỗ ở của Triệu Văn T”. Tịch thu phát mại để nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, số Imei 1: 864555041190818, số Imei 2: 864555041190800, điện thoại đã qua sử dụng. Tịch thu để sung ngân sách Nhà nước số tiền 750.000 đồng của bị cáo Triệu Văn T do bán ma túy mà có. Trả cho chị Triệu Thị N số tiền 10.000.000 đồng. Truy thu số tiền 1.250.000 đồng (Một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) bị cáo đã bán ma túy mà có để sung ngân sách ngân sách Nhà nước. Về án phí, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

4

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến trong phần tranh luận. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với lời khai của người làm chứng Vi Văn C đã khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; vì vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 19 giờ 30 ngày 02/10/2024, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma tuý Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng phối hợp với tổ công tác Công an xã C, huyện T và Đồn Biên phòng Đ, Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh C phát hiện Triệu Văn T có biểu hiện nghi vấn, cơ quan chức năng đã tạm giữ trong túi quần phía trước bên trái chiếc quần T đang mặc 01 gói nhỏ được gói bằng ni lông màu trắng, bên trong là lớp giấy trắng có dòng kẻ, trong cùng là các cục chất bột màu trắng. T khai nhận số chất bột màu trắng trên là Heroine của bị cáo mua về sử dụng và bán kiếm lời. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành khám xét chỗ ở của Triệu Văn T, phát hiện và tạm giữ tại đầu giường ngủ đặt tại tầng âm nhà của Triệu Văn T 03 gói nhỏ được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ ngang, bên trong các gói có chứa các cục chất bột màu trắng. T khai nhận nguồn gốc số ma túy khoảng cuối tháng 9/2024 bị cáo một mình đi xe Bus đến chợ thị trấn T thì gặp một người đàn ông tên T2 hỏi mua ma túy với số tiền 5.000.000,đ.

Ngày 03/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành mở niêm phong cần xác định khối lượng vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại. Kết quả cân số chất bột màu trắng thu giữ đối với Triệu Văn T khi bắt quả tang có khối lượng 0,86 gam, thu giữ khi khám xét có khối lượng 1,04 gam. Tổng số chất bột màu trắng thu giữ đối với Triệu Văn T có khối lượng 1,90 gam. Tại kết luận giám định số 550/KL - KTHS ngày 11/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: 02 mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.

Bị cáo T khai nhận được bán ma túy cho Vi Văn C, sinh năm 1985, trú tại xóm K, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng 02 lần, mỗi lần bán 1.000.000 đồng, lần

5

thứ nhất vào ngày 29/9/2024, lần thứ hai vào trưa ngày 02/10/2024. Hai lần này bị cáo đã nhận được tiền từ Cương.

Như vậy, hành vi của bị cáo Triệu Văn T đã bán trái phép ma túy 02 lần trở lên nên đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; như Cáo trạng của Viện kiểm sát huyện T, Cao Bằng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền kiểm soát và quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo biết tác hại của ma túy và các quy định của pháp luật về phòng chống ma túy nhưng do hám lợi, lối sống buông thả, ý thức chấp hành pháp luật kém nên cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy mà còn là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Chính vì vậy, Nhà nước đã có chế tài nghiêm khắc đối với loại tội phạm này. Do đó, cần phải xử lý bị cáo nghiêm minh trước pháp luật.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo nghiện ma túy, có nhân thân xấu, ngày 20/9/2007 bị Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử 07 năm tù về Tội mua bán trái phép chất ma tuý, quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 và ngày 19/3/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng xét xử 03 năm tù về Tội vận chuyển hàng cấm, quy định tại khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự. Ngày 30/5/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử phúc thẩm, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm. Ngày 20/9/2021 bị cáo chấp hành xong hình phạt của bản án, trở về địa phương sinh sống. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 02/10/2024, bị cáo Triệu Văn T đã được xóa án tích.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo, sau khi xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy để ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới thì việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định là cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung.

[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh tại phiên tòa về mức hình phạt đối với bị cáo Triệu Văn T, cũng như các vấn đề khác liên quan trong vụ án phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

6

[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định của pháp luật.

[8] Đối với nguồn gốc số ma túy mà cơ quan chức năng phát hiện, thu giữ khi bắt quả tang và thu giữ khi khám xét chỗ ở của bị cáo và nguồn gốc ma túy bị cáo bán cho Vi Văn C, bị cáo khai nhận là do bị cáo mua với một người đàn ông tên T2, không rõ địa chỉ và năm sinh cụ thể với số tiền 5.000.000 đồng vào cuối tháng 9 năm 2024. Do bị cáo không xác định được họ tên, năm sinh, địa chỉ cụ thể của người đàn ông tên T2 nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xác minh, mở rộng điều tra vụ án.

Người làm chứng Vi Văn C khai nhận được mua ma túy với bị cáo Triệu Văn T 03 lần, sau khi tiến hành đối chất Triệu Văn T khẳng định chỉ được bán ma túy cho C 02 lần nên không có chứng cứ chứng minh bị cáo bán ma túy cho C 03 lần. Ngày 24/12/2024, Vi Văn C bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma túy- Công an huyện T bắt quả tang về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ 36,51g (ba mươi sáu phẩy năm một gam) ma túy, loại heroine. Vụ việc được bàn giao cho Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh C thụ lý, điều tra theo thẩm quyền. Do Vi Văn C đang bị khởi tố, tạm giam để điều tra trong một vụ án mua bán ma túy khác nên trong vụ án này Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T không xử lý gì đối với Vi Văn C là đúng quy định pháp luật.

[9] Về vật chứng: Vật chứng vụ án kèm theo hồ sơ hiện nay Chi cục Thi hành án huyện Trùng Khánh đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/02/2025. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xử lý như sau:

- Vật chứng là ma túy đựng trong 02 phong bì niêm phong, trong đó 01 (một) phong bì mặt trước ghi: “Vật chứng vụ Triệu Văn T - Mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra tại xóm Đ - C - huyện T - Cao Bằng ngày 02/10/2024"; 01 (một) phong bì mặt trước ghi: “SỐ 550/KL- KTHS hoàn mẫu vụ Triệu Văn T, mua bán trái phép chất ma túy”, mặt sau phong bì niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng 04 (bốn) hình con dấu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh C. Do vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu và tiêu huỷ.

- 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước ghi: “Vật chứng (dao lam, giấy lịch, ống nhựa, quyển vở) phát hiện, thu giữ khi khám xét chỗ ở của Triệu Văn T”, do vật chứng không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, số Imei 1: 864555041190818, số Imei 2: 864555041190800 tạm giữ đối với Triệu Văn T, bị cáo sử dụng chiếc điện thoại này để giao dịch mua bán ma túy nên Hội đồng xét xử tịch thu phát mại để sung ngân sách Nhà nước.

- Số tiền 10.750.000 đồng, trong đó có 750.000 đồng là tiền bị cáo bán ma túy cho Vi Văn C nên Hội đồng xét xử tịch thu để sung ngân sách Nhà nước;

7

còn 10.000.000 đồng là của vợ bị cáo Triệu Thị N lao động mà có, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả cho bà Triệu Thị N.

- Ngoài ra, Hội đồng xét xử truy thu số tiền 1.250.000 đồng mà bị cáo đã bán ma túy cho Vi Văn C để sung ngân sách Nhà nước.

[10] Về án phí: Bị cáo Triệu Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố Bị cáo Triệu Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Triệu Văn T 07 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam 02/10/2024 .

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 03 phong bì niêm phong, trong đó:

+ 01 (một) phong bì mặt trước ghi: “Vật chứng vụ Triệu Văn T - Mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra tại xóm Đ - C - huyện T - Cao Bằng ngày 02/10/2024";

+ 01 (một) phong bì mặt trước ghi: “Số 550/KL- KTHS hoàn mẫu vụ Triệu Văn T, mua bán trái phép chất ma túy”.

+ 01 (một) phong bì mặt trước ghi: “Vật chứng (dao lam, giấy lịch, ống nhựa, quyển vở) phát hiện, thu giữ khi khám xét chỗ ở của Triệu Văn T”.

- Tịch thu phát mại để sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, số Imei 1: 864555041190818, số Imei 2: 864555041190800 tạm giữ đối với Triệu Văn T.

- Tịch thu để sung ngân sách Nhà nước số tiền 750.000,đ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) của bị cáo Triệu Văn T do bán ma túy mà có.

- Trả cho bà Triệu Thị N, nơi thường trú: Xóm Đ, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng số tiền 10.000.000,đ (Mười triệu đồng).

- Truy thu số tiền 1.250.000,đ (Một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) bị cáo Triệu Văn T đã bán ma túy để sung ngân sách Nhà nước.

Xác nhận số vật chứng trên đã chuyển sang cơ quan Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Trùng Khánh tại biên bản giao, nhận vật chứng và Giấy nộp tiền ngày 21/02/2025.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

8

Buộc bị cáo Triệu Văn T phải chịu 200.000,đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Triệu Thị N có quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh, huyện;
  • - Công an tỉnh;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Phòng HS Công an tỉnh;
  • - Cơ quan THA hình sự;
  • - Bị cáo;
  • - Người liên quan;
  • - Lưu: HS, Án văn, THAHS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Mã Thị Diệu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HSST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 11/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Triệu Văn Thanh phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger