|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2024/DS-ST
Ngày: 19-4-2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng,
thực hiện nghĩa vụ tài sản
do người chết để lại
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Trường.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hồng Thắng.
- Bà Nguyễn Thị Diệu Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Chiến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 12/2023/TLST-DS ngày 21 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 02 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số: 06/2024/QĐST-DS ngày 21 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V1); địa chỉ trụ sở chính: Tầng A (tầng trệt) và Tầng 2 Tòa nhà S, số A P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ nhận văn bản tố tụng: Tầng F Tòa nhà P, số B đường U, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Hàn Ngọc V, chức danh: Tổng giám đốc, là người đại diện theo pháp luật; vắng mặt.
Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Trần Tiến L - Nhân viên Ngân hàng Thương mại cổ phần Q; (Giấy uỷ quyền số 006698.23 ngày 03/01/2023); có mặt.
- Bị đơn: Ông Trần Văn L1, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Lê Mậu Y, sinh năm 1937; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
- Bà Trần Thị T, sinh năm 1935; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
- Anh Trần Lê Nhật L2, sinh năm 1999; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
- Cháu Trần Thị Trà M, sinh ngày 04/11/2011; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật của cháu M: Ông Trần Văn L1, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế - là cha đẻ của cháu M; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị T1: Bà Trương Thị Hồng N - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 03/01/2023, Văn bản sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện đề ngày 21/02/2023 và quá trình tố tụng, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Bà Lê Thị T2 và ông Trần Văn L1 có quan hệ vay vốn với Ngân hàng Thương mại cổ phần Q - Chi nhánh H tại Phòng G (sau đây gọi tắt là Ngân hàng), cụ thể như sau:
- Ngày 23/8/2021, hai bên ký Hợp đồng tín dụng số 5918467.21 với nội dung Ngân hàng cho vay 370.000.000 đồng (Ba trăm bảy mươi triệu đồng); phương thức vay từng lần; mục đích vay: Sửa chữa nhà; thời hạn vay 180 tháng được tính từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đầu tiên; biện pháp bảo đảm tiền vay: Có bảo đảm bằng tài sản thế chấp.
- Ngày 23/8/2021, bà Lê Thị T2 ký Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế với nội dung ngân hàng phát hành mới thẻ tín dụng hạn mức thẻ cấp 36.000.000 đồng; chủ thẻ Lê Thị T2; thời hạn sử dụng thẻ: 60 tháng; lãi suất 36%/năm cho 03 kỳ sao kê đầu tiên từ ngày phát hành thẻ lần đầu.
Ngày 24/8/2021, bà T2 và Ngân hàng ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2561076.21 với nội dung: Thế chấp quyền sử dụng đất thửa 702, tờ bản đồ số 9, địa chỉ tại thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế đã được Ủy ban nhân dân huyện P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 406498 ngày 11/8/2021 mang tên bà Lê Thị T2 và ông Trần Văn L1. Hợp đồng thế chấp được công chứng ngày 24/8/2021 và đăng ký thế chấp ngày 24/8/2021 tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện P. Bà T2 còn ký Văn bản cam kết ngày 24/8/2021 cam kết các tài sản trên đất là sở hữu riêng, thuộc tài sản thế chấp.
Ngày 25/8/2021, Ngân hàng đã giải ngân số tiền vay 370.000.000 đồng theo đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 5918467(1).21; lãi suất tại thời điểm giải ngân là 11,7%/năm, lãi suất được điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3,3%/năm.
Quá trình vay vốn, bên vay đã trả được 66.816.110 đồng, trong đó nợ gốc 24.672.000 đồng, nợ lãi 42.144.110 đồng cho hợp đồng tín dụng ngày 23/8/2021. Bên vay sử dụng thẻ để giao dịch với số tiền 36.752.084 đồng.
Bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng và không thanh toán số tiền phát sinh qua thẻ tín dụng. Ngân hàng nhiều lần đôn đốc nhưng bên vay không thực hiện nên đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 26/9/2022 và 02 lần điều chỉnh lãi suất từ 11,9%/năm lên 14,3%/năm vào ngày 25/11/2022, lần hai từ 14,3% lên 14,8% vào ngày 25/02/2023.
Sau nhiều lần liên hệ bên vay thực hiện nghĩa vụ trả nợ không có kết quả nên ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà T2 và ông L1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng và trả các khoản phí vượt hạn mức, phí chậm thanh toán thẻ tín dụng. Theo kết quả xác minh, bị đơn là bà T2 đã chết ngày 21/9/2022. Do đó, Ngân hàng thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Toà án giải quyết các vấn đề sau:
1. Buộc ông Trần Văn L1 và những người thừa kế của bà Lê Thị T2 là ông Lê Mậu Y, bà Trần Thị T, anh Trần Lê Nhật L2 và cháu Trần Thị Trà M thanh toán số tiền nợ tính đến thời điểm khởi kiện là 405.523.569 đồng (Bốn trăm linh năm triệu năm trăm hai mươi ba nghìn năm trăm sáu mươi chín đồng) bao gồm:
- Hợp đồng tín dụng ngày 23/8/2021 gồm nợ gốc 354.328.000 đồng (Ba trăm năm mươi bốn triệu ba trăm hai mươi tám nghìn đồng), lãi trong hạn 15.472.684 đồng (Mười lăm triệu bốn trăm bảy mươi hai nghìn sáu trăm tám mươi bốn đồng), lãi trên nợ gốc quá hạn 448.368 đồng (Bốn trăm bốn mươi tám triệu ba trăm sáu mươi tám đồng).
- Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế ngày 23/8/2021 gồm nợ gốc 36.752.084 đồng (Ba mươi sáu triệu bảy trăm năm mươi hai nghìn không trăm bốn mươi tám đồng), phí chậm thanh toán và phí vượt hạn mức là 7.522.433 đồng (Bảy triệu năm trăm hai mươi hai nghìn bốn trăm ba mươi ba đồng).
2. Buộc ông L1, ông Y, bà T, anh L2 và cháu M trả số tiền lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại các hợp đồng tín dụng đã ký.
3. Trường hợp người có nghĩa vụ không trả được nợ thì đề nghị phát mãi tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất thửa số 702, tờ bản đồ số 9, địa chỉ tại Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, diện tích 400,3 m² được Ủy ban nhân dân huyện P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 406498 ngày 11/8/2021 để trả nợ.
Trường hợp sau khi phát mãi tài sản bảo đảm mà không đủ số tiền nợ gốc, lãi và chi phí có liên quan thì ông L1, ông Y, bà T, anh L2, cháu M có trách nhiệm tiếp tục thanh toán số tiền còn thiếu cho đến khi thanh toán hết nợ.
Tại Bản tự khai ngày 07/8/2023 và quá trình tố tụng, bị đơn là ông Trần Văn L1 trình bày:
Ông và bà Lê Thị T2 (đã chết) có mối quan hệ vợ chồng, đăng ký kết hôn năm 1999. Hợp đồng tín dụng, đề nghị mở thẻ tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản đều do bà T2 trực tiếp ký với Ngân hàng. Ông có ký hợp đồng ủy quyền ngày 17/8/2021 nhưng khi ký ông không đọc hợp đồng này. Ông không biết cụ thể thời điểm ký, số tiền vay là bao nhiêu, tài sản thế chấp là gì. Ngày 21/9/2022, bà T2 chết, ông đã đăng ký khai tử. Sau khi nhận được thông báo thụ lý vụ án của Tòa án, ông biết được số nợ là 405.523.569 đồng. Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và không đồng ý trả nợ.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 18/5/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Lê Mậu Y, bà Trần Thị T trình bày: Ông, bà là cha mẹ đẻ của bà Lê Thị T2 (đã chết). Ông, bà không biết việc bà T2 vay tiền của ngân hàng. Ông, bà không có liên quan đến nghĩa vụ của bà T2. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định.
Tại Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 28/8/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là bà Nguyễn Thị T1 trình bày:
Bà và ông Trần Văn L1 là chị em cùng mẹ khác cha. Bà sinh sống ở địa phương tại thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Bà bị khuyết tật nhìn nặng nên vào làm việc và ở tạm tại Hội người mù thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Thửa đất đang thế chấp vay vốn tại Ngân hàng nguồn gốc là của mẹ đẻ của bà (Cụ Nguyễn Thị T3 - đã chết). Sau khi mẹ của bà chết, bà đã đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2005, bà được Ủy ban nhân dân xã P hỗ trợ 7.000.000 đồng và số tiền mà tích góp được thêm để xây dựng nhà tình thương trên thửa đất nêu trên. Đến năm 2015, bà xây nhà chống bão lụt nên được Nhà nước tiếp tục hỗ trợ 12.000.000 đồng làm nhà chống bão lụt và được hỗ trợ vay thêm 15.000.000 đồng tại Phòng G1 thuộc Ngân hàng C - Chi nhánh H.
Năm 2021, bà và ông L1, bà T2 ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất trên cho ông L1, bà T2 ; bà không có chuyển nhượng nhà. Bà không có ý kiến về yêu cầu khởi kiện yêu cầu thanh toán nợ của Ngân hàng.
Tuy nhiên, ngôi nhà mà bà đầu tư xây dựng là từ nguồn thu nhập của bà và sự hỗ trợ của các cơ quan cho riêng bà nên thuộc sở hữu riêng của bà. Do đó, đề nghị Toà án xem xét cho bà được giữ lại ngôi nhà này khi giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Trần Lê Nhật L2 không đưa ra ý kiến, yêu cầu gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 07/7/2023 như sau:
- Thửa đất số 702, tờ bản đồ số 9, địa chỉ tại thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế đã được Ủy ban nhân dân huyện P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 406498 ngày 11/3/2021, diện tích 400,3 m² (trong đó, đất ở 400 m², đất trồng cây lâu năm 0,3 m²) mang tên ông Trần Văn L1 và bà Lê Thị T2.
- Tài sản gắn liền với đất gồm:
+ Khối nhà (1): Kết cấu móng trụ bê tông cốt thép (BTCT), tường xây đã tô, lamri gạch men, mái lợp tôn fibroximang, nền lát gạch ceramix; nhà bếp (vị trí phía sau), tường xây, nền xi măng, mái lợp tôn fibroximang; sảnh (V), móng trụ BTCT, mái lợp tôn fibroximang, nền lát gạch ceramic.
+ Khối nhà (2): Kết cấu móng, trụ BTCT, tường xây đã tô, hệ đỡ mái bằng xà gồ + sắt, mái lợp tôn fibroximang; sảnh (vieranda) móng, trụ BTCT, hệ đỡ mái xà gồ + sắt, mái lợp tôn fibroximang (vị trí bên phải khối nhà (1), hướng nhìn ra đường).
+ Khối nhà (3): Kiểu nhà ba gian, kết cấu móng trụ BTCT, nền xi măng, hệ đỡ mái xà gồ + thép, mái lợp fibroximang (vị trí bên trái khối nhà (1), hướng nhìn ra đường).
+ Mái che: Kết cấu trụ sắt, hệ đỡ mái xà gồ +sắt, mái lợp tôn lạnh (vị trí phía trước và bên trái khối nhà (1)).
+ Sân bê tông xi măng: Vị trí phía trước khối nhà (3) và một phần khối nhà (1).
+ Cây lâu năm gồm: Bưởi da xanh, ổi, xoài, cau, chòi mòi, lộc vừng (không kiểm đếm số lượng).
Tại thời điểm xem xét, thẩm định tại chỗ, ông L1 đang sử dụng khối nhà (1) và (2). Khối nhà (3) có biển “Nhà tình thương Hợp tác xã Trạch Phổ tặng năm 2005".
Tại Công văn số 316/UBND-TPHT ngày 08/11/2023 của Ủy ban nhân dân xã P cung cấp thông tin về kinh phí xây dựng nhà tình thương, như sau: Năm 2005, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã P đã hỗ trợ cho bà Nguyễn Thị T1 kinh phí xây dựng nhà tình thương tại thôn T, xã P với số tiền là 7.000.000 đồng và năm 2015 tiếp tục hỗ trợ bà T1 12.000.000 đồng để xây dựng nhà chống bão lụt.
Quá trình tố tụng, Toà án đã nhiều lần tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai tài liệu, chứng cứ và hoà giải nhưng nhiều đương sự vắng không có lý do nên không hòa giải được.
Ngày 29/02/2024, Toà án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập phiên tòa lần thứ nhất vào ngày 21/3/2024 nhưng ông Y, bà T, anh L2 vắng mặt nên đã hoãn phiên tòa. Ngày 01/4/2024, Tòa án tống đạt Quyết định hoãn phiên toà và giấy triệu tập phiên toà lần thứ hai vào ngày 19/4/2024 nhưng ông L1, ông Y, bà T, anh L2 và bà T1 vắng mặt.
Tại phiên toà, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày số tiền nợ tính đến ngày 19/4/2024 theo hợp đồng tín dụng ngày 23/8/2021 nợ gốc 345.328.000 đồng, lãi trong hạn 19.224.739 đồng, lãi trên nợ gốc quá hạn 109.404.966 đồng; đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 23/8/2021 nợ gốc 36.752.084 đồng, nợ lãi 20.470.911 đồng, nợ phí 26.461.500 đồng; tổng cộng 557.642.200 đồng (Năm trăm năm mươi bảy triệu sáu trăm bốn mươi hai nghìn hai trăm đồng).
Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị T1: Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, kết quả cung cấp thông tin của Ủy ban nhân dân xã P và lời khai của bà T1 thì ngôi nhà tình thương trên thửa đất thế chấp thuộc sở hữu của bà T1. Tại Biên bản định giá tài sản ngày 19/8/2021 của Ngân hàng không định giá tài sản là nhà ở. Căn cứ khoản 2 Điều 325 của Bộ luật Dân sự năm 2015, đề nghị không xử lý tài sản này.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý, Thẩm phán thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định; tại phiên tòa vắng mặt nên đề nghị xét xử vắng mặt.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 466, 468, 470, 613, 614 và 615 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 91 và 95 của Luật các Tổ chức tín dụng để chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Trần Văn L1 có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn số tiền 557.642.200 đồng và lãi phát sinh. Trường hợp ông L1 không thực hiện nghĩa vụ thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp; khi phát mãi tài sản thì đề nghị ưu tiên thanh toán cho bà Nguyễn Thị T1 giá trị căn nhà thuộc quyền sở hữu của bà T1. Ông Trần Mậu Y1, bà Trần Thị T, anh Trần Lê Nhật L2 và cháu Trần Thị Trà M (do ông Trần Văn L1 là người đại diện hợp pháp) là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của người chết để lại phải chịu trách nhiệm trả nợ cho nguyên đơn trong phạm vi di sản mà bà Lê Thị T2 (đã chết) để lại. Sau khi phát mãi tài sản
bảo đảm mà không đủ thanh toán nợ thì ông L1 phải tiếp tục thanh toán số tiền còn nợ cho đến khi thanh toán hết nợ. Buộc các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà, Toà án nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ phát sinh theo hợp đồng tín dụng giữa một bên là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh và một bên là cá nhân không có đăng ký kinh doanh; quá trình tố tụng, nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện buộc ông Trần Văn L1 và những người thừa kế của bà Lê Thị T2 đã chết phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng tín dụng, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. Bị đơn có nơi cư trú tại xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về việc vắng mặt đương sự: Ông Trần Văn L1 là bị đơn, vừa là người đại diện hợp pháp của cháu Trần Thị Trà M; ông Lê Mậu Y, bà Trần Thị T và anh Trần Lê Nhật L2 và bà Nguyễn Thị T1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không thuộc trường hợp do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.
[2] Về hợp đồng ủy quyền: Nguyên đơn yêu cầu giải quyết nghĩa vụ phát sinh từ các hợp đồng tín dụng ngày 23/8/2021 số tiền cho vay là 370.000.000 đồng, bên vay là bà Lê Thị T2 và được ông Trần Văn L1 ủy quyền phần quyền của ông L1 bằng hợp đồng ủy quyền; Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế ngày 23/8/2021, người đề nghị là bà Lê Thị T2, hạn mức tín dụng 36.000.000 đồng. Bị đơn là ông L1 cho rằng có ký hợp đồng ủy quyền nhưng không đọc, không biết số tiền vay.
[2.1] Xét thấy ông L1 và bà T2 là vợ chồng. Bà T2 là chủ thể trực tiếp ký các hợp đồng nêu trên được ông L1 ủy quyền bằng hợp đồng ủy quyền ký ngày 17/8/2021, được công chứng. Tại Hợp đồng ủy quyền có chữ viết của ông L1 “đã đọc và đồng ý” trước khi ký tên và có cả dấu điểm chỉ. Do đó, ông L1 cho rằng không đọc khi ký hợp đồng ủy quyền là không có cơ sở.
[2.2] Bà T2 xác lập giao dịch vay tiền của ngân hàng và thế chấp tài sản phù hợp quy định về căn cứ xác lập đại diện giữa vợ và chồng tại khoản 1, 2 Điều 24 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các Điều 135, 138 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[3] Về hợp đồng tín dụng: Nội dung, hình thức hợp đồng tín dụng, đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản đều phù hợp với quy định tại các Điều 117, 385, 401 và Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng, không vượt quá phạm vi đại diện như nhận định tại mục [2.2] nên có hiệu lực.
[4] Về số tiền nợ gốc:
Theo Hợp đồng tín dụng ngày 23/8/2021, thời hạn cho vay là 180 tháng, kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân 25/8/2021. Thời hạn trả nợ gốc 25/8/2036, trả nợ gốc hàng tháng vào ngày 25, ngày trả nợ gốc đầu tiên là ngày 25/9/2021. Ngân hàng đã giải ngân số tiền 370.000.000 đồng (Ba trăm bảy mươi triệu đồng) theo đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 5918467(1).21 ngày 25/8/2021.
Theo Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế ngày 23/8/2021 số tiền cấp tín dụng 36.000.000 đồng (Ba mươi sáu triệu đồng), bên vay đã sử dụng số tiền 36.752.084 đồng (Ba mươi sáu triệu bảy trăm năm mươi hai nghìn không trăm tám mươi bốn đồng).
Quá trình vay vốn, bên vay đã trả số tiền 66.816.110 đồng (Sáu mươi sáu triệu tám trăm mười sáu nghìn một trăm mười đồng), trong đó nợ gốc 24.672.000 đồng, nợ lãi 42.144.110 đồng cho hợp đồng tín dụng ngày 23/8/2021.
Ông L1 không có tài liệu chứng minh đã trả nợ. Những người thừa kế của bà T2 đều vắng mặt trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa là từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh.
Do đó, xác định bên vay còn nợ gốc là 382.080.084 đồng (Ba trăm tám mươi hai triệu không trăm tám mươi nghìn không trăm tám mươi bốn đồng), trong đó nợ gốc hợp đồng tín dụng là 345.328.000 đồng (Ba trăm bốn mươi lăm triệu ba trăm hai mươi tám nghìn đồng), nợ gốc đối với đề nghị cấp thẻ tín dụng là 36.752.084 đồng (Ba mươi sáu triệu bảy trăm năm mươi hai nghìn không trăm tám mươi bốn đồng).
[5] Về tiền lãi, phí:
Theo thỏa thuận tại mục 2.6 của Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ ngày 25/8/2021 của hợp đồng tín dụng ngày 23/8/2021, lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 11,7%/năm, Ngân hàng chủ động điều chỉnh 03 tháng 01 lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3,3%/năm. Tại mục 1.4.6 điều khoản và điều kiện áp dụng cấp tín dụng của hợp đồng tín dụng thì lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, lãi suất nợ lãi chậm trả bằng 10%/năm của số dư lãi chậm trả.
Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế ngày 23/8/2021, mức lãi suất tại thời điểm làm thẻ 36%, các khoản phí phát sinh khi chủ sử dụng thẻ chậm thanh toán là 4%/số tiền chậm thanh toán (áp dụng trên toàn bộ dư nợ cuối kỳ chưa thanh toán) và phí vượt hạn mức là 4%/số tiền vượt hạn mức.
[5.1] Mức lãi suất các bên thỏa thuận là tự nguyện, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.
[5.2] Căn cứ quy định về tính lãi suất tại Điều 13 Thông tư số: 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; các điều khoản thỏa thuận về phương pháp tính lãi, kỳ tính lãi hợp đồng tín dụng, bên vay còn nợ lãi tính đến ngày 19/4/2024 gồm:
- Hợp đồng tín dụng ngày 23/8/2021 lãi trong hạn 19.224.739 đồng, lãi trên nợ gốc quá hạn 109.404.966 đồng.
- Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế ngày 23/8/2021 nợ lãi 20.470.911 đồng, nợ phí 26.461.500 đồng.
[6] Về yêu cầu trả nợ:
[6.1] Các hợp đồng tín dụng mà bà T2 ký khi còn sống. Bà T2 đã chết ngày 21/9/2022. Theo kết quả xác minh, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà T2 còn sống bao gồm ông L1, 02 người con là Trần Lê Nhật L2 và Trần Thị Trà M và ông Lê Mậu Y, bà Trần Thị T là cha, mẹ đẻ của bà T2 chưa có thỏa thuận phân chia di sản của bà T2 nên có nghĩa vụ về tài sản đối với khoản nợ của bà T2 kể từ thời điểm mở thừa kế của bà T2 theo Điều 614 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Ông Y và bà T cho rằng không có liên quan đến nghĩa vụ của bà T2 là không có cơ sở.
[6.2] Bên vay vi phạm nghĩa vụ thỏa thuận. Căn cứ các Điều 280, 463, 465 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện, buộc ông L1 và những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà T2 là ông Y, bà T, anh L2, cháu M (do ông L1 là người đại diện theo pháp luật) và ông L1 có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền là 557.642.200 đồng (Năm trăm năm mươi bảy triệu sáu trăm bốn mươi hai nghìn hai trăm đồng).
[6.3] Những người thuộc hành thừa kế thứ nhất của bà T2 có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi ½ tài sản của bà T2 đã thế chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 615 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Ông L1 là chồng của bà T2 và đã ủy quyền cho bà T2 xác lập giao dịch nên phạm vi nghĩa vụ của ông L1 là ½ tài sản đã thế chấp.
[6.4] Ý kiến của Viện kiểm sát chỉ đề nghị buộc ông L1 phải chịu nghĩa vụ trả nợ là không phù hợp.
[7] Về lãi suất quá hạn và điều chỉnh lãi suất: Theo Án lệ số: 08/2016/AL được công bố theo Quyết định số: 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì: “Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay”. Xét thấy tính chất các tình tiết, sự kiện pháp lý trong vụ án này tương tự như trong án lệ. Vì vậy, áp dụng Án lệ số: 08/2016/AL xác định nghĩa vụ trả khoản tiền lãi quá hạn, điều chỉnh lãi suất sau ngày xét xử sơ thẩm.
[8] Về biện pháp bảo đảm tiền vay: Theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, các bên thỏa thuận bảo đảm tiền vay bằng biện pháp thế chấp tài sản. Bà Lê Thị T2 ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất thửa đất số 702, tờ bản đồ số 9, địa chỉ tại Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, diện tích 400,3 m² (trong đó đất ở 400 m²; đất trồng cây lâu năm 0,3 m²) đã được Ủy ban nhân dân huyện P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 11/8/2021 số hiệu CL 406498 mang tên ông L1 và bà T2. Hợp đồng được công chứng ngày 24/8/2021 và đăng ký thế chấp ngày 24/8/2021 tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện P.
Tại mục 3.2 và 3.3 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, các bên thỏa thuận nghĩa vụ bảo đảm bao gồm “...không giới hạn các công trình xây dựng phụ trợ thuộc sở hữu của bên B, vật phụ, hoa lợi, lợi tức, các quyền phát sinh từ tài sản thế chấp, tài sản hay tiền đền bù, bồi thường của cơ quan có thẩm quyền hoặc bên thứ ba, bất kì và toàn bộ các quyền, quyền lợi theo hợp đồng bảo hiểm ký giữa bên B và công ty B được bên A chấp thuận.”.
[8.1] Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ cho thấy trên đất có 03 khối nhà ở, trong đó, khối nhà (3) là nhà tình thương. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn cho rằng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên bà T2 và ông L1 và Văn bản cam kết của bà T2 khối nhà này thuộc tài sản thế chấp. Tuy nhiên, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên không chứng nhận sở hữu nhà ở. Khối nhà này được tạp lập trước thời điểm bà T2 giao dịch vay tiền của ngân hàng, được sự hỗ trợ của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã P cho cá nhân bà T1 và chưa chuyển nhượng nhà cho bên thứ ba là phù hợp kết quả cung cấp thông tin của Ủy ban nhân dân xã P. Như vậy, khối nhà này thuộc sở hữu của bà T1.
[8.2] Theo Án lệ số: 11/2017/AL được công bố theo Quyết định số: 299/QĐ-CA ngày 28/12/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì: “[4] Trường hợp trên đất có nhiều tài sản gắn liền với đất mà có tài sản thuộc sở hữu của người sử dụng đất, có tài sản thuộc sở hữu của người khác mà người sử dụng đất chỉ thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu của mình, hợp đồng thế chấp có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật thì hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật”.
[8.3] Chủ thể ký hợp đồng hoàn toàn tự nguyện, hợp đồng được công chứng theo quy định và tài sản thế chấp được đăng ký phù hợp quy định tại các Điều 298, 317 và 319 của Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm a khoản 3 Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013Điều 22 Nghị định số: 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm đảm thực hiện nghĩa vụ và Án lệ số: 11/2017/AL xác định hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất có hiệu lực pháp lý.
[8.4] Bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên căn cứ Điều 299 Bộ luật Dân sự năm 2015, các Điều 49 và 50 Nghị định số: 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm đảm thực hiện nghĩa vụ, Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật đối với tài sản thuộc phạm vi thế chấp để thu hồi nợ.
[8.5] Khối nhà (3) thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị T1 nên khi xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất cần dành quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà T1 nếu có nhu cầu như quy định tại Điều 325 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Án lệ số 11/2017/AL.
[9] Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 24 và 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
[9.1] Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí, được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[9.2] Bị đơn là ông Trần Văn L1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng số tiền phải trả 557.642.200 đồng là [20.000.000 đồng + 157.642.200 đồng x 4%] = 26.305.688 đồng, làm tròn là 26.306.000 đồng (Hai mươi sáu triệu ba trăm linh sáu nghìn đồng).
[10] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.650.000 đồng (Một triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Căn cứ vào khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu nên buộc bị đơn phải chịu và trả số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ cho nguyên đơn.
[11] Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thời hạn kháng cáo của đương sự vắng mặt tại phiên toà được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
[12] Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, trừ các nội dung tại mục [6.4].
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, điểm c khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 135, 138, 117, 280, 298, 299, 317, 319, 325, 385, 398, 401, 463, 465, 466, 468, 614 và 615 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 91 và khoản 2 Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;
Áp dụng các khoản 1, 2 Điều 24 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013
Áp dụng các Điều 24 và 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Áp dụng các Điều 22, 49, 50 Nghị định số: 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm đảm thực hiện nghĩa vụ;
Áp dụng Điều 13 Thông tư số: 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;
Áp dụng Án lệ số: 08/2016/AL được công bố theo Quyết định số: 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 và Án lệ số: 11/2017/AL được công bố theo Quyết định số: 299/QĐ-CA ngày 28/12/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1.1. Buộc ông Trần Văn L1, ông Lê Mậu Y, bà Trần Thị T, anh Trần Lê Nhật L2 và cháu Trần Thị Trà M (do ông Trần Văn L1 là người đại diện theo pháp luật) phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q số tiền nợ phát sinh tính đến ngày 19/4/2024 là 557.642.200 đồng (Năm trăm năm mươi bảy triệu sáu trăm bốn mươi hai nghìn hai trăm đồng). Cụ thể:
- Hợp đồng tín dụng số 5918467.21 ký ngày 23/8/2021 là 473.957.705 đồng (Bốn trăm bảy mươi ba triệu chín trăm năm mươi bảy nghìn bảy trăm linh năm đồng), gồm nợ gốc 354.328.000 đồng (Ba trăm năm mươi bốn triệu ba trăm hai mươi tám nghìn đồng), nợ lãi trong hạn 19.224.739 đồng (Mười chín triệu hai trăm hai mươi bốn nghìn bảy trăm ba mươi chín đồng) và lãi trên nợ gốc quá hạn 109.404.965 đồng (Một trăm linh chín triệu bốn trăm linh bốn nghìn chín trăm năm mươi sáu đồng).
- Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế ngày 23/8/2021 là 83.684.945 đồng (Tám mươi ba triệu sáu trăm tám mươi bốn nghìn chín trăm bốn mươi lăm đồng), gồm nợ gốc 36.752.084 đồng (Ba mươi sáu triệu bảy trăm năm mươi hai triệu không trăm bốn mươi tám đồng), nợ lãi 20.470.911 đồng (Hai mươi triệu bốn trăm bảy mươi nghìn chín trăm mười một đồng) và nợ phí 26.461.500 đồng (Hai mươi sáu triệu bốn trăm sáu mươi mốt nghìn năm trăm đồng).
Trong đó, phạm vi nghĩa vụ của ông L1, ông Y, bà T, anh L2 và cháu M do ông Trần Văn L1 là người đại diện theo pháp luật là ½ tài sản thế chấp của bà Lê Thị T2, ½ còn lại là nghĩa vụ của ông L1.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bên vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bên vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
1.2. Công nhận hiệu lực của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất. Trường hợp ông Trần Văn L1, ông Lê Mậu Y, bà Trần Thị T, anh Trần Lê Nhật L2, cháu Trần Thị Trà M (do ông Trần Văn L1 là người đại diện theo pháp luật) không trả nợ hoặc trả không đủ số tiền còn nợ của hợp đồng tín dụng, đề nghị phát hành thẻ tín dụng đã ký thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật là bất động sản tọa lạc tại thửa đất số 702, tờ bản đồ số 9, địa chỉ tại thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế đã được được Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế số CL 406498 cấp ngày 11/08/2021 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 24/8/2021 và Văn bản cam kết ngày 24/8/2021, trừ khối nhà (3) thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị T1.
Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ thì ông L1 có nghĩa vụ tiếp tục trả số tiền còn nợ cho Ngân hàng.
1.3. Công nhận bà Nguyễn Thị T1 được sở hữu khối nhà (3) tọa lạc trên thửa đất thế chấp. Bà Nguyễn Thị T1 được ưu tiên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nếu có nhu cầu khi xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất.
2. Về án phí sơ thẩm:
2.1. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 10.110.000 đồng (Mười triệu một trăm mười nghìn đồng) theo Biên lai thu số AA/2021/0006807 ngày 21/3/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
2.2. Ông Trần Văn L1 phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 26.306.000 đồng (Hai mươi sáu triệu ba trăm linh sáu nghìn đồng).
3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ngân hàng Thương mại cổ phần Q không phải chịu. Buộc ông Trần Văn L1 phải hoàn trả lại số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.650.000 đồng (Một triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; thời hạn kháng cáo của đương sự vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Văn Trường |
Bản án số 11/2024/DS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tranh chấp hợp đồng tín dụng, thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
- Số bản án: 11/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. 1.1. Buộc ông Trần Văn L, ông Lê Mậu Y, bà Trần Thị T, anh Trần Lê Nhật L1 và cháu Trần Thị Trà M (do ông Trần Văn L là người đại diện theo pháp luật) phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q số tiền nợ phát sinh tính đến ngày 19/4/2024 là 557.642.200 đồng (Năm trăm năm mươi bảy triệu sáu trăm bốn mươi hai nghìn hai trăm đồng).
