|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN TỈNH GIA LAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 11/2024/HS-ST Ngày: 19-04-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ksor Juh.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Rmah Hoa và bà Nguyễn Thị Huê.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Diệu Linh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Ksor Yanh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 04 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 04 năm 2024, đối với bị cáo:
S, sinh ngày 07 tháng 07 năm 1997, tại huyện P, tỉnh Gia Lai; Nơi đăng ký HKTT: Thôn M, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai; Chỗ ở hiện nay: Thôn M, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 4/12; Dân tộc: Jrai; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Rmah Soet, sinh năm 1976 và con bà: Siu H' Nhăi, sinh năm 1976; Có vợ là Nay H'Ot, sinh năm 1989 và 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- - Bị hại: Ông Ksor L, sinh năm 1968; Địa chỉ: P, xã I, huyện P. Có mặt.
- - Người bào chữa cho bị cáo Siu S: Bà Bùi Thị P - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh G
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 13/01/2024, Siu S và Ksor H (sinh năm 2003, trú thôn P, xã I, huyện P) đến nhà ông Ksor L1 tại thôn P, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai chơi và uống rượu. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Ksor H do say rượu nên nằm ngủ còn Siu S đi bộ về trước. Khi đi đến đoạn đường trước nhà ông Ksor L (sinh năm 1968, trú tại thôn P, xã I, huyện P), S nhìn thấy 01 xe mô tô loại Yamha Sirius màu đen BKS 81R1-5492 có để sẵn chìa khóa trên xe đang dựng ven đường. Nhân lúc không có người trông coi, S đã lén lấy chiếc xe mô tô này đi về nhà mẹ là bà Siu H1' Nhãi tại thôn P, xã I, huyện P. Ngày 14/01/2024, bà Siu H2 có hỏi S đi xe của ai thì S nói “có người quen đưa xe cho đi nhưng không nói rõ xe của ai”. Sau đó, S điều khiển xe trộm cắp được đi đến khu vực rẫy của gia đình mình tại khu vực suối I thuộc lâm phần do Ban Q quản lý để làm rẫy và tháo dỡ một số phụ tùng xe để tránh bị phát hiện.
Sau khi phát hiện bị mất xe, ngày 31/01/2024 ông Ksor L phát hiện xe mô tô mà Siu S đang cất giữ tại nhà bà Siu H2 là xe mô tô của mình bị mất trộm nên đã làm đơn trình báo Công an. Ngày 06/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện P ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Siu S về tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐG ngày 05/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P, kết luận trị giá 01 xe mô tô BKS 81R1-5492 đã qua sử dụng là 2.150.000 đồng.
- * Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 (Một) xe mô tô BKS 81R1-5492 và đã trả lại cho ông Ksor L là chủ sở hữu hợp pháp theo quy định.
- * Về dân sự: Ông Ksor L đã nhận lại tài sản trộm cắp là xe mô tô BKS 81R1-5492 và ông Ksor L không yêu cầu bồi thường nên không đề cập đến.
Tại bản Cáo trạng số 08/CT-VKS ngày 19 tháng 03 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Siu S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia lai giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng Điều 38; Điều 54; khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Siu S từ 05 tháng đến 07 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2024.
- Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại 01 (Một) xe mô tô BKS 81R1-5492 cho ông Ksor L là chủ sở hữu hợp pháp, nên không đề cập đến.
- Về dân sự: Ông Ksor L đã được nhận lại tài sản là 01 (Một) xe mô tô BKS 81R1-5492, ông Ksor L không yêu cầu bồi thường nên không đề cập đến.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo thống nhất về tội danh và điều luật mà Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai đề nghị đối với bị cáo. Do bị cáo là người dân tộc thiểu số, học vấn thấp nên hiểu biết về pháp luật còn hạn chế, trong quá trình giải quyết vụ án bị cáo cũng đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại phiên tòa bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt, do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị và không có yêu cầu gì khác tại phiên tòa ngày hôm nay.
Bị cáo không tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo trình bày đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Vào khoảng 14 giờ 00' ngày 13/01/2024, sau khi uống rượu xong tại thôn P, xã I, huyện P, bị cáo lợi dụng sơ hở lúc ông Ksor L không quản lý tài sản đã có hành vi lấy trộm 01 xe mô tô BKS 81R1- 5492 của ông Ksor L, trị giá 2.150.000đồng. Đồng thời bị cáo đã tháo một số phụ tùng để tránh sự phát hiện của chủ tài sản, mục đích trộm cắp để làm phương tiện đi lại. Đến ngày 31/01/2024 thì bị phát hiện và thu giữ.
Lời khai của bị cáo phù hợp với những chứng cứ, tài liệu thu thập được có tại hồ sơ vụ án cũng như lời khai của những người tham gia tố tụng khác. Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo Siu S đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Xét Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật mà còn xâm phạm đến trật tự trị an xã hội tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình phạm tội, thể hiện sự liều lĩnh và coi thường pháp luật. Do đó, cần xử phạt tù bị cáo với mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của tội phạm mà bị cáo gây ra mới đảm bảo giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội sau này.
[3]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều ra, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa người bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần áp dụng khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
Xét thấy cần thiết buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù và đồng thời cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội sau này. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần áp dụng hình phạt cho bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo điều 54 Bộ luật Hình sự mới tương xứng, phù hợp với tội phạm mà bị cáo gây ra.
[4]. Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, xét thấy Cơ quan điều tra đã trả lại 01 (Một) xe mô tô BKS 81R1-5492 cho ông Ksor L là đúng quy định nên không đề cập đến.
[5]. Về án phí: Bị cáo Siu S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Siu S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo S (Năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 31/01/2024.
2. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Siu S phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 19/04/2024, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xem xét theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ksor Juh |
Bản án số 11/2024/HS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN, TỈNH GIA LAI về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 11/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo S năm tháng
