|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN TỈNH LONG AN Bản án số: 11/2024/KDTM-ST Ngày: 17-7-2024 V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN
TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Nghiêm
- Bà Lương Thị Thu Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Phương Uyên – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 31/2023/TLST – KDTM ngày 06 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXST-KDTM ngày 27 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Công ty TNHH C
Địa chỉ: F, KP E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện hợp pháp theo pháp luật của nguyên đơn: Bà Trần Thị Kiều L, sinh năm 1966; Địa chỉ: Số D, KP E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, chức vụ: Giám đốc. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt) -
Bị đơn: Công ty TNHH T
Địa chỉ: Lô D, Đường số B, Cụm C, xã L, thành phố T, tỉnh Long An.
Người đại diện hợp pháp theo pháp luật của bị đơn: ông Lê Thanh N, sinh năm 1979; Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên; Địa chỉ: Số A đường B, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ghi ngày 31 tháng 7 năm 2023 và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn Công ty TNHH C do bà Trần Thị Kiều L đại diện theo pháp luật trình bày: Vào tháng 5 năm 2021, Công ty TNHH T có đặt hàng mua bao bì của Công ty TNHH C với số lượng là 27 lần hàng và giao hàng xuất 27 hoá đơn giá trị gia tăng. Ngày 14/3/2022, Công ty TNHH C và Công ty TNHH T có đối chiếu công nợ và xác định số tiền Công ty TNHH T còn nợ Công ty TNHH C là 1.274.001.271 đồng. Ngày 17/3/2022, Công ty TNHH T trả cho Công ty TNHH C số tiền 100.000.000 đồng. Ngày 31/3/2022, Công ty TNHH T trả cho Công ty TNHH C số tiền 50.000.000 đồng. Ngày 16/9/2023, Công ty TNHH T xác nhận còn nợ Công ty TNHH C số tiền 1.124.001.271 đồng và cam kết đến ngày 07/10/2023 sẽ đưa ra lịch thanh toán cụ thể nhưng đến nay Công ty TNHH T vẫn chưa thanh toán số tiền trên cho Công ty TNHH C.
Nay bà Trần Thị Kiều L đại diện Công ty TNHH C yêu cầu Công ty TNHH T có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH C số tiền 1.124.001.271 đồng, không yêu cầu tính lãi, phương thức thanh toán là trả một lần.
* Bị đơn Công ty TNHH T do ông Lê Thanh N đại diện theo pháp luật vắng mặt tại phiên tòa, không có bảng tự khai nội dung sự việc. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án có tiến hành thủ tục niêm yết thông báo về việc thụ lý vụ án cho Công ty TNHH T biết về việc Tòa án có thụ lý vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá theo đơn khởi kiện của Công ty TNHH C theo quy định pháp luật, nhưng Công ty TNHH T không có ý kiến bằng văn bản gửi đến Tòa án về việc Công ty TNHH C khởi kiện.
* Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án cho rằng:
Về tố tụng: Thẩm phán tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử Thẩm phán chấp hành đúng theo quy định Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đều tuân theo quy định pháp luật tố tụng. Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty TNHH C chấp hành đúng theo quy định pháp luật. Đối với bị đơn vắng mặt không có lý do nên Toà án đưa vụ án ra xét xử là phù hợp theo Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, các chứng cứ có trong hồ sơ có đủ căn cứ để xác định Công ty TNHH T có mua bán hàng hóa và còn nợ lại Công ty TNHH C số tiền tổng cộng là 1.124.001.271đ nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH C. Buộc Công ty TNHH T có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH C số tiền nợ là 1.124.001.271đ (Một tỷ một trăm hai mươi bốn triệu không trăm lẻ một nghìn hai trăm bảy mươi mốt đồng) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Công ty TNHH T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền: ngày 21/8/2023 Công ty TNHH C gửi đơn khởi kiện Công ty TNHH T tại Tòa án về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa. Bị đơn Công ty TNHH T có trụ sở tại thành phố T, tỉnh Long An. Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Người đại diện hợp pháp theo pháp luật của nguyên đơn Công ty TNHH C là bà Trần Thị Kiều L có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Công ty TNHH T là bị đơn có người đại diện theo pháp luật là ông Lê Thanh N đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị đơn.
[3] Về nội dung:
[3.1] Công ty TNHH C yêu cầu Công ty TNHH T phải có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH C số tiền nợ là 1.124.001.271đ. Xem xét yêu cầu của nguyên đơn Công ty TNHH C, thấy rằng: Căn cứ vào Giấy báo nợ quá hạn ngày 16/9/2023 kèm Biên bản đối chiếu xác nhận số dư công nợ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án do nguyên đơn cung cấp, có căn cứ xác định giữa Công ty TNHH C và Công ty TNHH T đã xác lập hợp đồng mua bán hàng hoá bằng lời nói, hàng hoá được giao dịch mua bán là bao bì. Căn cứ vào Giấy báo nợ quá hạn ngày 18/01/2022 kèm Biên bản đối chiếu xác nhận số dư công nợ và Giấy báo nợ quá hạn ngày 16/9/2023 kèm Biên bản đối chiếu xác nhận số dư công nợ được ông Lê Thanh Nghĩa 1 Giám đốc Công ty TNHH T ký xác nhận thể hiện tính đến đến ngày 16/9/2023 Công ty TNHH T còn nợ Công ty TNHH C số tiền mua hàng là 1.124.001.271đ. Đây là tình tiết không phải chứng minh được quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Chính vì vậy, nguyên đơn yêu cầu Công ty TNHH T trả số tiền: 1.124.001.271đ.
Do Công ty TNHH T không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán nên Công ty TNHH C yêu cầu Công ty TNHH T phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại. Việc Công ty TNHH T không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH C đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hoá làm cho quyền lợi của Công ty TNHH C bị thiệt hại, nên yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH C là có căn cứ chấp nhận, buộc Công ty TNHH T phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH C số tiền còn nợ là 1.124.001.271đ.
[3.2] Về tính lãi: Công ty TNHH C không yêu cầu Công ty TNHH T trả lãi đối với số tiền Công ty TNHH T còn nợ Công ty TNHH C nên Hội đồng xét xử không xem xét, không đề cập đến.
[3.3] Về phương thức thanh toán: Công ty TNHH C yêu cầu Công ty TNHH T1 số tiền nợ một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xét thấy: Công ty TNHH T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nếu kéo dài thời gian thanh toán làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty TNHH C, được pháp luật bảo vệ. Do đó, để đảm bảo quyền lợi của Công ty TNHH C, Hội đồng xét xử xét chấp nhận theo yêu cầu của Công ty TNHH C, xét buộc Công ty TNHH T có nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ 1.124.001.271đ cho Công ty TNHH C một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là phù hợp.
[4] Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên tòa về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án là có căn cứ, Hội đồng xét xử xét chấp nhận.
[5] Về án phí: Công ty TNHH C yêu cầu Công ty TNHH T có nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ được Tòa án chấp nhận toàn bộ, nên theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Công ty TNHH T phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm về kinh doanh thương mại là 45.720.038đ (Bốn mươi lăm triệu bảy trăm hai mươi nghìn không trăm ba mươi tám đồng). Công ty TNHH C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về kinh doanh thương mại.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 267; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào Điều 351; Điều 357; Điều 430 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Điều 24, Điều 34, Điều 50, Điều 54, Điều 55, Điều 306; Điều 319 của Luật Thương mại.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH C đối với Công ty TNHH T.
Buộc Công ty TNHH T có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH C số tiền nợ là 1.124.001.271đ (Một tỷ một trăm hai mươi bốn triệu không trăm lẻ một nghìn hai trăm bảy mươi mốt đồng) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày Công ty TNHH C có đơn yêu cầu thi hành án, Công ty TNHH T chưa hoàn trả hết số tiền trên cho Công ty TNHH C thì Công ty TNHH C có quyền yêu cầu tính lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác (theo Điều 306 Luật thương mại).
-
Về án phí: Công ty TNHH T phải chịu 45.720.038đ (Bốn mươi lăm triệu bảy trăm hai mươi nghìn không trăm ba mươi tám đồng) án phí dân sự sơ thẩm về kinh doanh thương mại.
Công ty TNHH C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Công ty TNHH C số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 22.860.000đ (Hai mươi hai triệu tám trăm sáu mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001230 ngày 30/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Cẩm Nhung |
Bản án số 11/2024/KDTM-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá
- Số bản án: 11/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công ty Châu Hoà Long "tranh chấp hợp đồng mua bán" Công ty Nghĩa Phát
