TOÀ ÁN ND HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 17/4/2024
“V/v tranh chấp ly hôn, con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Tuấn
2. Ông Nguyễn Văn Hợi
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Giáp – Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Hiếu – chức vụ Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Bình xét xử sơ thẩm, công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm, thụ lý số: 301/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2023, về việc “tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐ-TA ngày 13 tháng 03 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Vân A, sinh năm 2002
Nơi cư trú: Xóm X, xã D, huyện P, tỉnh Thái Nguyên
Bị đơn: Anh Vũ Văn T, sinh năm 1995
Nơi cư trú: Xóm X, xã D, huyện P tỉnh Thái Nguyên
(Chị Vân A1 có mặt, anh T có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai tại phiên toà chị Nguyễn Thị Vân A trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị đăng ký kết hôn với anh Vũ Văn T vào ngày 24/01/2020, tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình chung sống vợ chồng anh chị đã xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, anh T không quan tâm đến vợ con thường chơi bời, la cà bạn bè. Chị đã bỏ về nhà ngoại ở, vợ chồng sống ly thân từ tháng 7 năm 2022, sau đó gia đình khuyên nhủ chị quay lại nhưng anh T không thay đổi nên chị lại về ngoại ở cho đến nay. Nay chị xác định mẫu thuẫn đã ở mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.
Về con chung: Có 02 con chung là Vũ Minh T1, sinh ngày 23/12/2020 và Vũ Hạ B, sinh ngày 03/8/2022.
Khi ly hôn chị có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cả hai con chung cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Cháu lớn hiện đang ở với bố tuy nhiên anh T không ở nhà mà để ông nội chăm sóc. Còn cháu nhỏ hiện chị đang trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn: Chị và anh T sẽ tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Vân A1 và anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai anh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh công nhận thời gian kết hôn, nơi đăng ký kết hôn và mâu thuẫn vợ chồng đúng như chị Vân A1 đã khai. Quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn đến giờ vẫn không hàn gắn được và không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân khiến vợ chồng xảy ra cãi vã sống ly thân được khoảng 01 năm. Anh T xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, chị Vân A1 xin ly hôn anh không đồng ý.
Về con chung: Có 02 con chung là Vũ Minh T1, sinh ngày 23/12/2020 và Vũ Hạ B, sinh ngày 03/8/2022.
Anh có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cả hai con chung cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
Về cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Vân A1 và anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết, Tòa án tiến hành xác minh được biết anh T hiện làm công nhân may của Nhà máy M có mức lương thu nhập ổn định trung bình khoảng 5.000.000đồng/ 1tháng.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- Việc tiếp nhận đơn của Tòa án, việc thụ lý đơn khởi kiện và quá trình giải quyết của Hội đồng xét xử và việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX: Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 BLTTDS, Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết 326 của Quốc hội, giải quyết theo hướng:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Vân A cho chị Vân A1 được ly hôn anh T.
- Về con chung: Giao con Vũ Hạ B cho chị Nguyễn Thị Vân A; Giao con Vũ Minh T1 cho anh Vũ Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung đến khi con trường thành (đủ 18) tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật.
Chị Vân A1 và anh T không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị Vân A1 và anh T có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không giải quyết do không có yêu cầu.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết do không có yêu cầu.
- Về án phí: Chị Vân A1 phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án ly hôn căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Bị đơn anh T hiện đang cư trú tại huyện P, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Tại phiên tòa bị đơn anh T vắng mặt đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh T. Tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 12/4/2023, anh T đồng ý ly hôn chị Vân A1; về con chung: Anh T có nguyện vọng trực tiếp nuôi con chung Vũ Minh T1, chị Vân Anh n con Vũ Hạ B; tài sản chung – nợ chung không có.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vân A1 và anh T kết hôn với nhau ngày 24 tháng 01 năm 2020, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện P, tỉnh Thái Nguyên đủ điều kiện được công nhận hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống chị Vân A1 và anh T đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Sau khi xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng anh chị đã sống ly thân nhau từ tháng 7 năm 2022 đến nay. Chị Vân A1 xác định mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã ở mức trầm trọng nên chị Vân A1 có nguyện vọng xin được ly hôn với anh T.
Anh T xác định nguyên nhân dẫn đến việc chị Vân A1 yêu cầu ly hôn với anh là do không tìm được tiếng nói chung khiến cho vợ chồng xảy ra cãi vã. Hiện nay, chị Vân A1 đã bỏ về nhà ngoại ở. Tại đơn xin xét xử vắng mặt tại Toà anh T trình bày quan điểm chị Vân A1 yêu cầu giải quyết ly hôn anh đồng ý.
Hội đồng xét xử nhận thấy thực tế trong cuộc sống vợ chồng anh, chị đã xảy ra những mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống. Từ khi chị Vân A1 có đơn ly hôn nộp tại Tòa án, anh T có nguyện vọng vợ chồng về đoàn tụ nhưng trong thời gian giải quyết ly hôn tại toà án vợ chồng vẫn không cải thiện tình cảm. Tại phiên tòa chị Vân A1 vẫn giữ nguyên quan. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị Vân A1 và anh T đã ở mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy việc duy trì quan hệ hôn nhân cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai nên chấp nhận đơn ly hôn của chị Vân A1, cho chị được ly hôn với anh T như vậy là phù hợp với thực tế và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Có 02 con chung là Vũ Minh T1, sinh ngày 23/12/2020 và Vũ Hạ B, sinh ngày 03/8/2022.
Nhận thấy chị Vân A1 có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung Vũ Hạ B, anh T có nguyện vọng nuôi con chung Vũ Minh T1 cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.
Xét thấy, do các cháu còn nhỏ nên cần đảm bảo sự phát triển, ổn định tâm sinh lý của trẻ nhỏ trên cơ sở thực tế Chị Vân A1 và anh T đều có việc làm và mức thu nhập ổn định và có đủ khả năng để cho con có điều kiện nuôi dưỡng và học tập tốt, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con vì vậy giao con Vũ Hạ B chưa đủ 36 tháng tuổi cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng; giao con Vũ Minh T1 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác là phù hợp với thực tế và quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Anh T, chị Vân A1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở theo quy định Điều 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: chị Vân A1 và anh T tự thoả thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Do chị Vân A1 và anh T không có yêu cầu nên Tòa án không giải quyết, nếu các đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
[5] Về án phí: Chị Vân A1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 39, 146, 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017.
Tuyên xử:.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về ly hôn của chị Nguyễn Thị Vân A, cho chị Vân A1 được ly hôn anh T.
- Về con chung: Giao con Vũ Hạ B, sinh ngày 03/08/2022 cho chị Nguyễn Thị Vân A; Giao con Vũ Minh T1, sinh ngày 23/12/2020 cho anh Vũ Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung đến khi con trường thành (đủ 18) tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật.
Chị Vân A1 và anh T không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị Vân A1 và anh T có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Vân A1 và anh T tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Do chị Vân A1 và anh T không có yêu cầu nên Tòa án không giải quyết, nếu các đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
- Về án phí: Chị Vân A1 phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước, được chuyển từ tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0003655 ngày 15/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày, chị Vân A1 được quyền kháng cáo bản án kể từ ngày tuyên án; anh T được quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án tại địa phương.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thanh Nhàn |
Bản án số 11/2024/HNGĐ - ST ngày 17/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp ly hôn, con chung
- Số bản án: 11/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về ly hôn của chị Nguyễn Thị Vân Anh, cho chị Vân Anh được ly hôn anh Thưởng
