Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2024/DS-ST

Ngày: 16-8-2024

“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Như Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Giới

Ông Trần Văn Nam

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Đức Trọng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Nhàn - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 26 tháng 7 và 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 25/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 3 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST-DS ngày 29/5/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2024/QĐ-ST ngày 12/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2024/QĐ-ST ngày 28/6/2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 05/2024/QĐST - DS ngày 26/7/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Á (viết tắt là A); địa chỉ: D N, phường E, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Từ Tiến P – Chức vụ: Tổng giám đốc.

    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị T – Chức vụ: Giám đốc Xử lý nợ; địa chỉ: số A P, phường P, quận H, thành phố Hà Nội.

    Người được bà Phạm Thị T ủy quyền lại: Bà Ma Thị Ngọc M - Nhân viên xử lý nợ.

  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Viết L; nơi thường trú: thôn A, xã T, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tố tụng, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP Á (gọi tắt là A) trình bày:

Ngày 05/12/2018, A ký hợp đồng cấp tín dụng số UBI. CN.2011.051218 (số tài khoản vay 273781989) với anh Nguyễn Viết L thỏa thuận A cho anh L vay số tiền 100.000.000 đồng, mục đích cho vay là tiêu dùng tín chấp - Vay nhóm không hợp tác - Mua sắm vật dụng gia đình, thời hạn vay 60 tháng kể từ ngày 05/12/2018 đến 05/12/2023, lãi suất: 10,50%/năm (LS1 - Lãi suất tính theo dư nợ ban đầu), 20, 66%/năm (LS2 - Lãi suất tính theo dư nợ cho vay thực tế), lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi suất phạt chậm trả lãi 10%/năm. A đã giải ngân cho anh L số tiền trên theo hình thức chuyển khoản vào tài khoản thanh toán số 3430097 của anh Nguyễn Viết L tại A và thông báo lịch trả nợ vay cho anh Nguyễn Viết L cùng ngày 05/12/2018.

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, tính đến ngày 27/12/2023, anh L trả cho A tổng số tiền 71.774.049 đồng, trong đó tiền gốc là 48.009.000 đồng, tiền lãi là 23.765.049 đồng. Sau đó, A đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện cho anh L trả nợ, nhưng anh L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận. Ngày 26/3/2021, A ra Thông báo thu hồi nợ trước hạn đối với anh L. Quá thời hạn trên anh L không thanh toán hoặc thanh toán không đủ toàn bộ số dư nợ gốc, lãi thì A sẽ chuyển nợ quá hạn. Tuy nhiên, anh L vẫn không thanh toán cho A. Ngày 30/6/2021, A đã thông báo chuyển nợ quá hạn đối với anh Nguyễn Viết L. Nay A khởi kiện yêu cầu:

  • Đề nghị Tòa án buộc anh Nguyễn Viết L trả cho A số tiền tạm tính đến ngày 28/6/2024 là 111.471.641 đồng; trong đó: vốn gốc 51.991.000 đồng, lãi trong hạn 875.000 đồng, lãi quá hạn 52.883.620 đồng, phạt chậm trả lãi, phạt trễ kỳ 5.722.021 đồng. Ngoài ra anh Nguyễn Viết L còn phải tiếp tục trả tiền lãi, phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng trả góp, tính kể từ ngày 27/7/2024 đến ngày trả hết nợ và phải chịu toàn bộ tiền án phí.

* Quá trình tố tụng bị đơn anh Nguyễn Viết L đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng đúng theo quy định của pháp luật. Tòa án đã tiến hành thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải ngày 03/5/2024. Tại buổi làm việc, anh L có mặt không thực hiện việc viết bản tự khai, không ký vào các biên bản làm việc cũng như không gửi bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ.

Tại Biên bản xác minh ngày 25/6/2024 với chị Lâm Thị P1 (vợ anh L) thể hiện:

Anh Nguyễn Viết L hiện đang cư trú tại thôn A, xã T, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Chị và anh L ở cùng với bố mẹ anh L tại địa chỉ thôn A, xã T, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Anh L hiện làm công nhận tại công ty T1 ở thành phố U, đi làm về trong ngày. Chị có nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án và từ đó mới biết được việc anh L vay tiền của A. Trước đó chị không biết được việc anh L vay tiền của A, anh L cũng không mang số tiền trên về mua sắm cho gia đình. Qua trao đổi với anh L chị biết được rằng anh L đứng ra vay số tiền trên để cho một người họ

3

hàng làm ăn. Chị đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết không đưa chị tham gia tố tụng đối với khoản vay trên.

* Ngày 21/5/2024, Tòa án mở phiên hòa giải lần thứ hai, tuy nhiên anh L vắng mặt không có lý do. Đại diện theo ủy quyền của A có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải.

Tại phiên tòa, A giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc anh L trả cho A số tiền tạm tính đến ngày 28/6/2024 là 111.471.641 đồng; trong đó: vốn gốc 51.991.000 đồng, lãi trong hạn 875.000 đồng, lãi quá hạn 52.883.620 đồng, phạt chậm trả lãi, phạt trễ kỳ 5.722.021 đồng. Ngoài ra anh Nguyễn Viết L còn phải tiếp tục trả tiền lãi, phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng trả góp, tính kể từ ngày 27/7/2024 đến ngày trả hết nợ và phải chịu toàn bộ tiền án phí.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • Về tống tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử đã đã thực hiện đúng quy định tại Điều 196, Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng nhiệm vụ quy định tại Điều 51, Điều 237 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án; nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại các Điều 70, 71, 78 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

  • Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả toàn bộ số tiền vốn gốc còn lại và các khoản tiền lãi phát sinh còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số UBI.CN.2011.051218 ngày 05/12/2018.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Tòa án nhận định:

  1. Về tố tụng:

    Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: A khởi kiện anh Nguyễn Viết L, yêu cầu phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng được hai bên thỏa thuận, ký kết và cho vay với mục đích tiêu dùng tín chấp - Vay nhóm không hợp tác - Mua sắm vật dụng gia đình nên xác định tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp về dân sự và quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn có nơi thường trú tại thôn A, xã T, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh nên căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều.

4

Bị đơn anh Nguyễn Viết L đã được triệu tập đến phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

  1. Về hợp đồng cấp tín dụng được ký kết giữa A và ông Nguyễn Viết L:

    1. Về hình thức của hợp đồng tín dụng: xét thấy hợp đồng cấp tín dụng đã được lập thành văn bản có chữ ký của các bên, vì vậy hình thức đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

    2. Về nội dung: Ngày 05/12/2018, A ký hợp đồng cấp tín dụng số UBI. CN.2011.051218 (số tài khoản vay 273781989) với anh Nguyễn Viết L thỏa thuận A cho anh L vay số tiền 100.000.000 đồng, mục đích cho vay là tiêu dùng tín chấp - Vay nhóm không hợp tác - Mua sắm vật dụng gia đình, thời hạn vay 60 tháng kể từ ngày 05/12/2018 đến 05/12/2023, lãi suất: 10,50%/năm (LS1 - Lãi suất tính theo dư nợ ban đầu), 20, 66%/năm (LS2 - Lãi suất tính theo dư nợ cho vay thực tế), lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi suất phạt chậm trả lãi 10%/năm. A đã giải ngân cho anh L số tiền trên theo hình thức chuyển khoản vào tài khoản thanh toán số 3430097 của anh Nguyễn Viết L tại A. Xét thấy Hợp đồng tín dụng và điều khoản cấp tín dụng được A và anh Nguyễn Viết L ký kết trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, người tham gia ký kết có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, phù hợp với quy định tại Điều 117, 119 Bộ luật Dân sự. Do đó, hợp đồng tín dụng có hiệu lực pháp lý, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Quá trình thực hiện hợp đồng, A đã thực hiện đúng nghĩa vụ giải ngân đủ số tiền cho vay và thời gian như đã thỏa thuận, nhưng anh L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Theo hợp đồng tín dụng số UBI. CN.2011.051218 ngày 05/12/2018, tính đến ngày 27/12/2023, anh L trả cho A tổng số tiền 71.774.049 đồng, trong đó tiền gốc là 48.009.000 đồng, tiền lãi là 23.765.049 đồng.

      Kể từ khi hết thời hạn Hợp đồng cấp tín dụng số UBI. CN.2011.051218 ngày 05 tháng 12 năm 2018 cho đến nay, ông Nguyễn Viết L vẫn chưa trả cho A khoản tiền gốc và lãi nào nữa. Ngày 07/12/2023, A khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Viết L trả nợ gốc và lãi theo Hợp đồng cấp tín dụng số UBI. CN.2011.051218 ngày 05 tháng 12 năm 2018.

      - Về số tiền lãi:

      Tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 16/8/2024) A đề nghị Tòa án: buộc ông Nguyễn Viết L trả cho A tổng số tiền tạm tính là 114.110.479 đồng; trong đó: vốn gốc 51.991.000 đồng, lãi trong hạn 875.000 đồng, lãi quá hạn 55.046.602 đồng, phạt chậm trả lãi, phạt trễ kỳ 6.197.877 đồng. Ngoài ra ông Nguyễn Viết L còn phải tiếp tục trả tiền lãi, phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng trả góp, tính kể từ ngày 17/8/2024 đến ngày trả hết nợ và phải chịu toàn bộ tiền án phí.

      Tại bảng tính lãi theo tài khoản ngày 14/8/2024 A cung cấp cho Tòa án:

      + Tiền lãi trong hạn là 875.000 đồng, tính từ ngày 25/02/2021 đế ngày 26/3/2021

5

+ Lãi quá hạn từ ngày 26/3/2021 đến ngày 12/8/2021 (của dư nợ tính lãi 54.991.000 đồng) là: 6.489.857 đồng; lãi quá hạn từ ngày 12/8/2021 đến ngày 16/8/2021 (của dư nợ tính lãi 51.991.000 đồng) là: 48.556.745 đồng

+ Phạt chậm trả lãi từ ngày 25/3/2021 đến ngày 16/8/2024 là 6.197.877 đồng

Hội đồng xét xử xét thấy, ngày 30/6/2021, A đã thông báo chuyển nợ quá hạn đối với toàn bộ số dư nợ gốc đã bị chuyển nợ quá hạn của ông Nguyễn Viết L1. Theo thông báo chuyển nợ quá hạn, trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày 30/6/2021 nếu ông Nguyễn Viết L không thanh toán khoản vay cho A thì toàn bộ khoản vay sẽ chuyển sang nợ quá hạn theo mục 7.4 của hợp đồng. Do ông Nguyễn Viết L không thanh toán khoản vay trong thời hạn thông báo, ngày 08/7/2021 toàn bộ khoản vay của ông Nguyễn Viết L chuyển sang nợ quá hạn. A đã chuyển toàn bộ khoản vay của ông L sang nợ quá hạn và tính phạt chậm trả lãi kể từ thời điểm chuyển nợ quá hạn là không phù hợp theo thông báo chuyển nợ quá hạn ngày 30/6/2021. Vì vậy, căn cứ Điều 8 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao chấp nhận một phần yêu cầu của A về số tiền lãi ông Nguyễn Viết L phải trả cho A theo hợp đồng cấp tín dụng số UBI. CN.2011.051218 ngày 05 tháng 12 năm 2018. Ông L chỉ phải chịu lãi trong hạn 875.000 đồng/kỳ từ ngày 25/02/2021 cho đến ngày 08/7/2021, lãi quá hạn tính từ ngày A chuyển nợ quá hạn cho đến phiên tòa sơ thẩm, phạt chậm trả lãi từ thời điểm 25/3/2021 cho đến ngày 08/7/2021 là ngày chuyển toàn bộ khoản vay sang nợ quá hạn. Cụ thể:

  • Tiền lãi trong hạn: từ ngày 25/02/2021 đến ngày 08/7/2021, ông Nguyễn Viết L phải chịu số tiền lãi trong hạn 875.000 đồng/ tháng, tương ứng với số ngày chậm trả, cụ thể như sau:

    54.991.000 x 133 (ngày) x 10,5%/365 (ngày) = 2.103.971 đồng

  • Tiền lãi quá hạn: do ngày 12/8/2021, ông Nguyễn Viết L đã trả cho A số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng). Do đó, ông L chỉ phải chịu tiền lãi quá hạn của số tiền 54.991.000 đồng từ ngày 08/7/2021 đến ngày 12/8/2021, cụ thể:

    54.991.000 x 35 (ngày) x 30,99%/365 (ngày) = 1.634.137 đồng

    Kể từ ngày 12/8/2021 đến ngày 16/8/2021, ông L phải chịu tiền lãi quá hạn của số tiền gốc còn lại là 51.991.000 đồng, cụ thể:

    51.991.000 x 1.100 (ngày) x 30,99%/365 (ngày) = 48.556.745 đồng

  • Phạt chậm trả lãi: do toàn bộ khoản vay của ông Nguyễn Viết L được A chuyển nợ quá hạn từ ngày 08/7/2021, do đó, ông Nguyễn Viết L chỉ phải chịu phạt chậm trả lãi từ ngày 25/3/2021 đến ngày 08/7/2021, cụ thể:

    875.000 x 105 (ngày) x 10%/365 (ngày) = 25.171 đồng

Tổng số tiền lãi ông Nguyễn Viết L phải trả cho A là: 52.320.024₫ (năm mươi hai triệu ba trăm hai mươi nghìn không trăm hai tư đồng)

Như vậy theo các điều khoản của Hợp đồng cấp tín dụng thì ông Nguyễn Viết L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Căn cứ vào các Điều 117, 119, 401, 402, 403, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của A là có căn cứ, cần được chấp nhận một phần.

6

  1. [2.3] Theo hợp đồng cấp tín dụng, mục đích cho vay là tiêu dùng tín chấp – Vay nhóm không hợp tác – Mua sắm vật dụng gia đình nhưng chị Lâm Thị P1 (vợ anh L) hoàn toàn không biết việc anh L vay tiền tại A cũng như anh L không mua sắm gì cho gia đình. Do đó, A khởi kiện buộc cá nhân anh L trả số tiền gốc và lãi còn nợ là có căn cứ.

  2. Về án phí: yêu cầu khởi kiện của A được chấp nhận một phần nên bị đơn anh Nguyễn Viết L phải chịu phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả là 5.215.500 đồng. Đối với phần lãi suất không được chấp nhận, A phải chịu án phí với số tiền là 490.000 đồng.

  3. Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sựĐiều 117, Điều 119, Điều 357, Điều 401, Điều 402, Điều 403, khoản 4 Điều 422, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm”; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Á.

    Buộc anh Nguyễn Viết L trả cho Ngân hàng TMCP Á toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi tính đến ngày 28/6/2024 là 104.311.024 đồng; trong đó: nợ gốc 51.991.000 đồng, lãi trong hạn 2.103.971 đồng, lãi quá hạn 50.190.882 đồng, phạt chậm trả lãi, phạt trễ kỳ 25.171 đồng.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 16/8/2024) cho đến khi thi hành án xong, anh Nguyễn Viết L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng cấp tín dụng số UBI.CN.2011.051218 ngày 05/12/2018.

  2. Về án phí: anh Nguyễn Viết L phải chịu 5.215.500đ (năm triệu hai trăm mười lăm nghìn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Ngân hàng TMCP Á phải chịu 490.000đ (bốn trăm chín mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.497.000₫ (hai triệu bốn trăm chín mươi bảy nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003499 ngày 15/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Ngân hàng TMCP Á được hoàn trả số tiền 2.007.000đ (hai triệu không trăm linh bảy nghìn đồng).

  3. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong

7

hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của của Bộ luật Tố tụng dân sự.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thị xã Đông Triều;
  • - Chi cục THADS thị xã Đông Triều;
  • - TAND, VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Trần Thị Như Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/DS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 11/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng A - Nguyễn Viết L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger