|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 11/2024/HS-ST Ngày: 16 - 4 - 2024. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Xuân Trường;
Ông Đoàn Trung Tuyến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Phú - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:12/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Phúc L, sinh năm 2003, tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm C, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức H và bà Phạm Thị D; tiền án, tiền sự: Không; hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; “có mặt”.
- Bị hại:
Anh Phạm Đức Đ, sinh năm 1994; địa chỉ: Xóm T, xã G huyện G, tỉnh Nam Định; “có mặt”.
- Người làm chứng:
Anh Nguyễn Đức L1; “có mặt”.
Anh Vũ Thanh H1, ông Đinh Văn H2, bà Vũ Thị H3, anh Lê Văn N, anh Lê Thái B; “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 23-9-2023, tại khu vực trước cổng đám cưới nhà anh Vũ Thanh H1 tại xóm C xã G, huyện G, giữa Trần Nam T và Nguyễn Văn B1 xảy ra mâu thuẫn với nhau. Bắc đấm 01 cái vào mặt bên trái của T, Trần Phúc L cùng mọi người vào can ngăn. Sau khi B1 đi về, giữa T và Phạm Đức Đ tiếp tục xảy ra xích mích mâu thuẫn với nhau, Đ dùng tay phải tát vào mặt T 02 cái, thấy T bị đánh L vào can ngăn thì bị Đ dùng tay đánh vào mặt. Sau đó L đi vào gian bếp nhà anh H1 lấy 01 con dao phay bằng kim loại, dài 29cm chém vào vùng trán, sườn trái của Đ. Nguyễn Đức L1 thấy vậy liền lao đến đạp vào bụng của L để ngăn cản, L cầm dao, xỉa về phía L1 trúng vào vành tai phải và gáy sau bên phải của L1. Đ tiếp tục lao vào đè L ra đường đấm vào mặt L 02 cái, một số người khác cũng dùng chân đạp vào người L nhưng do đông người nên L không rõ là những ai. Khi L bị Đại đè xuống đường đánh, L cầm dao chém liên tiếp về phía Đ và những người xung quanh. Lê Thái B là bạn của L vào can ngăn cũng bị L dùng dao chém vào mu bàn tay phải. L tiếp tục bị một số người dùng chân, tay lao vào đánh trong đó có L1 thì L1 bị L cầm dao chém trúng vào phần bụng, đùi, sườn. Sau đó L cầm dao bỏ chạy vào nhà chị Vũ Thị H3 trốn và bỏ lại con dao ở nhà chị H3. Đ, L1 và B đã được người thân đưa đi điều trị tại Trung tâm Y tế huyện G, Bệnh viện Đa khoa tỉnh N.
Tại bản kết luận giám định số: 408/KLTTCT-TTPY ngày 25 tháng 10 năm 2023 của Trung tâm P kết luận Phạm Đức Đ:
- “1.Các kết quả chính: 01 vết sẹo trung bình và 01 vết sẹo nhỏ vùng mặt (trán-cung mày trái và trán-đỉnh trái), không ảnh hưởng chức năng. Sẹo trung bình mạn sườn trái, không ảnh hưởng chức năng.
- 2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Đức Đ tại thời điểm giám định là 11% (mười một phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- 3. Cơ chế hình thành vết thương: thương tích do vật sắc tác động trực tiếp gây nên".
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể số 407/KLTTCT-TTPY ngày 25 tháng 10 năm 2023 của Trung tâm P kết luận thương tích của Nguyễn Đức L1:
- “1. Các kết quả chính: 02 sẹo vành tai phải không co rúm; Sẹo trung bình vùng cổ, không ảnh hưởng chức năng; 03 sẹo nhỏ (bụng trái, mạn sườn trái, đùi trái) không ảnh hưởng chức năng.
- 2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm cơ thể của Nguyễn Đức L1 tại thời điểm giám định là 09% (chín phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- 3. Cơ chế hình thành vết thương: thương tích do vật có góc và cạnh sắc tác động trực tiếp gây nên”
Tại bản kết luận giám định cơ thể số 409/KLTTCT-TTPY ngày 25 tháng 10 năm 2023 của Trung tâm P kết luận thương tích của anh Lê Thái B:
- “1. Các kết quả chính: 02 sẹo nhỏ ngón tay phải, không ảnh hưởng chức năng
- 2. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm cơ thể của Lê Thái B tại thời điểm giám định là 02% (hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại thông tư.
- 3. Cơ chế hình thành vết thương: thương tích do vật có góc và cạnh sắc tác động trực tiếp gây nên.”
Tại bản Cáo trạng số 07/CT-VKSND-GT ngày 28 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định đã truy tố Trần Phúc L về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố Trần Phúc L phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt Trần Phúc L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy 01 con dao phay kim loại đã qua sử dụng. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đặt ra. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố là đúng và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì; do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ của vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 23-9-2023, tại khu vực trước cổng đám cưới nhà anh Vũ Thanh H1 ở xóm C, xã G, huyện G; Trần Phúc L đã có hành vi sử dụng 01 con dao phay bằng kim loại, dài 29cm chém vào vùng trán, sườn trái anh Phạm Đức Đ. Căn cứ tiểu mục 2.1. và 2.2, mục 2, phần I, Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao, con dao L dùng để gây thương tích cho Đ, L1, B được xác định là “Hung khí nguy hiểm”. Hành vi của bị cáo dùng dao chém gây thương tích cho Đ với tỷ lệ tổn thương cơ thể 11% phải chịu trách nhiệm hình sự và đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo cùng gia đình đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho anh Phạm Đức Đại số tiền 20.000.000 đồng, anh Nguyễn Đức L1 số tiền 15.000.000 đồng; tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Anh Đ, anh L1 có đơn xin rút đơn đề nghị và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt chính: Căn cứ các quy định của pháp luật, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, tuy nhiên xét thấy chưa cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo kèm thời gian thử thách bởi bị cáo có nơi cư trú rõ ràng có hướng tự cải tạo là phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 - 4-2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo và gia đình đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho Đại số tiền 20.000.000 đồng và L1 số tiền 15.000.000 đồng; Đ và L1 không có yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.
[7] Đối với hành vi gây thương tích 09% cho Nguyễn Đức L1 và gây thương tích 02% cho Lê Thái B: Ngày 03-11-2023, Đ và L1 có đơn xin rút đơn đề nghị giải quyết vụ việc và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho L nên không đặt ra vấn đề xử lý đối với L về hành vi gây thương tích cho L1. Còn B không có yêu cầu xử lý hình sự, nên không đặt ra vấn đề xử lý đối với L hành vi gây thương tích cho B.
[8] Đối với Trần Trung N1, quá trình điều tra xác định T bị Phạm Đức Đ và Nguyễn Văn B1 dùng tay đánh, tuy nhiên đến nay anh T không có mặt ở địa phương, không xác định được ở đâu, Cơ quan điều tra đã tách ra, tiếp tục xác minh, xử lý sau.
[9] Đối với 01 dao phay bằng kim loại là hung khi mà Trần Phúc L dùng để gây thương tích cho Đ, L1 và B; đã thu giữ của ông Đinh Văn H2, ông H2 khai do chị H3 giao lại. Quá trình điều tra xác định con dao trên là tài sản của nhà anh Vũ Thanh H1, hiện anh H1 không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
[10] Đối với 01 điện thoại Xiaomi Redmi Note 10, vỏ màu xanh, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng thu giữ của Trần Phúc L; quá trình điều tra xác định là tài sản L sử dụng để liên lạc hàng ngày, kết quả kiểm tra không phát hiện thấy dữ liệu có liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho L là phù hợp.
[11] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Trần Phúc L phạm tội “Cố ý gây thương tích”; xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Trần Phúc L cho Ủy ban nhân dân xã G, huyện G, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo
- Xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy 01 dao phay bằng kim loại đã qua sử dụng (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng số 25/2024 lập ngày 28-02-2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định).
- Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Phúc L phải nộp 200.000 đồng.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Thu Hiền |
Bản án số 11/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 11/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội Cố ý gây thương tích
