|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 11/2024/HS-ST; Ngày: 15 - 8 - 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG – TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Minh Quân;
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Hoa;
- Bà Huỳnh Thị Thu Hồng;
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông: Ông Nguyễn Quốc Nam – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2024/TLST-HS ngày 19/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST-HS ngày 30/7/2024, đối với bị cáo:
Hồ Thanh N – sinh ngày 03/02/1986, tại tỉnh Tiền Giang;
Căn cước công dân số: [...], ngày 10/5/2021; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn H, sinh năm 1935 và bà Nguyễn Thị C (chết); vợ: Ngô Thị Thanh T, sinh năm 1982, có 01 con sinh năm 2014; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
* Người bị hại: Lê Văn T1 – sinh năm 1969 (chết);
* Những người ở hàng thừa kế thứ nhất của người bị hại Lê Văn T1:
- Bà Phạm Thị Kim E – sinh năm 1966 (là vợ bị hại), (có mặt);
- Anh Lê Phước S – sinh năm 2004 (con bị hại), (có mặt);
Cùng cư trú: ấp K, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang;
- 2 -
* Người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị Kim E và anh Lê Phước S
(theo Giấy ủy quyền số chứng thực 321 quyển số 01/2024 SCT/CK,ĐC ngày 13/8/2024): Ông Trần Quang V – sinh năm 1984;
Địa chỉ: số A, T, khu phố H, thị trấn T, huyện G, tỉnh Tiền Giang (có mặt);
* Người làm chứng: Ông Nguyễn Thành T2 – sinh năm 1983;
Nơi cư trú: ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 27/11/2023, bị cáo Hồ Thanh N điều khiển xe mô tô biển số 63B8 – 534.89 có giấy phép lái xe theo quy định, lưu thông trên đường tỉnh lộ 877B hướng từ đường tỉnh lộ 877B đến bến phà T. Khi đến khu vực ấp T, xã P, huyện T, bị cáo điều khiển xe mô tô vận tốc khoảng 50km/giờ nhìn thấy ông Lê Văn T1 đang đi bộ cùng chiều phía trước, bị cáo điều khiển xe vượt bên phải ông T1, nên tay lái xe bên trái của bị cáo va chạm vào bên phải người ông T1, làm ông T1 té ngã qua trái, xe và bị cáo ngã và trượt dài qua bên phải, làm cho bị cáo và ông T1 bị thương bất tỉnh, được đưa đến Bệnh viện Chợ Rẫy Thành phố H điều trị. Đến ngày 30/11/2023 ông Lê Văn T1 tử vong.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 392-2023/KLGĐTT-TTPY ngày 30/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận nguyên nhân tử vong của Lê Văn T1: chấn thương sọ não kín do xuất huyết dưới màng cứng, xuất huyết dưới nhện hai bán cầu đại não. Xuất huyết thân não. Phù não. Vỡ vòm sọ do tai nạn giao thông.
Theo phiếu kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu ngày 27/11/2023 của Trung tâm y tế huyện T, tỉnh Tiền Giang thì nồng độ cồn trong máu của Hồ Thanh N lúc xảy ra tai nạn là 00mg/dl.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường xác định: nơi xảy ra tai nạn tại tỉnh lộ 872B, đoạn đường thuộc ấp T, xã P, huyện T; mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, chiều rộng mặt đường 7,50 mét, có vạch phân tuyến, đoạn đường thẳng, không bị che khuất tầm nhìn, có biển báo đi chậm, không có lề đường dành cho người đi bộ. Lấy hướng đi từ đường tỉnh 877B đến Bến phà T làm hướng đi chính, tất cả dấu vết được đo vào lề phải theo hướng đi chính, xác định vùng điểm va chạm giữa xe mô tô biển số 63B8 – 534.89 và người bộ hành Lê Văn T1 cách vào đến mép lề phải là 1,80 mét.
Tại biên bản khám nghiệm phương tiện thể hiện: Xe mô tô hai bánh biển số 63B8 – 534.89 đảm bảo kỹ thuật an toàn.
* Tại Cáo trạng số 12/CT-VKSTPĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024
của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Hồ Thanh N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy
- 3 -
định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện T giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng; qua phân tích, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Hồ Thanh N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hồ Thanh N mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng: đề nghị tiếp tục tạm giữ 01 xe mô tô cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 63B8-543.89 của bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bồi thường tổng số tiền làm tròn là 218.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường số tiền 50.000.000 đồng, yêu cầu bồi thường tiếp 168.000.000 đồng; bị cáo đồng ý bồi thường tiếp số tiền theo yêu cầu của đại diện hợp pháp của người bị hại, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
* Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội
của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã mô tả và truy tố. Phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, thống nhất với tội danh, điều luật và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị; về loại hình phạt bị cáo xin hưởng án treo để được tại ngoại.
Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đồng ý bồi thường tiếp số tiền 168.000.000 đồng theo yêu cầu của người đại diện gia đình người bị hại đưa ra.
Bị cáo không có lời nói sau cùng.
Đại diện theo ủy quyền của những người ở hàng thừa kế thứ nhất của người bị hại là ông Trần Quang V yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí cho việc điều trị cấp cứu 16.010.900 đồng, chi phí mai táng 66.664.000 đồng, chi phí tổn thất tinh thần cho vợ và con của người bị hại 24 tháng lương tối thiểu (2.340.000 đồng/tháng) là 56.160.000 đồng, tổng cộng làm tròn là 218.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường được 50.000.000 đồng, nên yêu cầu bồi thường tiếp số tiền còn lại 168.000.000 đồng. Đối với chi phí nuôi bệnh và thu nhập bị mất của người nuôi bệnh 7.500.000 đồng, chi phí thuê rạp làm đám tang 33.000.000 đồng, đại diện người bị hại tự nguyện không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền này. Bà Phạm Thị Kim E và anh Lê Phước S cũng thống nhất với những yêu cầu bồi thường thiệt hại của người đại diện Trần Quang V, không có ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- 4 -
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người ở hàng thừa kế thứ nhất của người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, những người ở hàng thừa kế thứ nhất của người bị hại Lê Văn T1 là bà Phạm Thị Kim E và anh Lê Phước S có đơn xin rút yêu cầu luật sư Trần Quang V bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình; đồng thời xuất trình Giấy ủy quyền số chứng thực 321 quyển số 01/2024 SCT/CK,ĐC ngày 13/8/2024, ủy quyền cho ông Trần Quang V làm người đại diện. Xét yêu cầu của những người ở hàng thừa kế thứ nhất của người bị hại Lê Văn T1 là có cơ sở, phù hợp với Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Thanh N đã khai nhận hành vi đã thực hiện đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm phương tiện, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có cơ sở xác định: Vào khoảng 07 giờ ngày 27/11/2023, bị cáo Hồ Thanh N đã điều khiển xe mô tô biển số 63B8 – 534.89 có giấy phép lái xe theo quy định, lưu thông trên đường tỉnh lộ 872B hướng từ tỉnh lộ 877B đến Bến phà T, huyện T. Bị cáo đã nhìn thấy ông Lê Văn T1 đi bộ phía trước cùng chiều với hướng đi của bị cáo, nhưng bị cáo vẫn điều khiển xe không giảm tốc độ để dừng lại một cách an toàn, dẫn đến va chạm với ông Lê Văn T1 gây tai nạn, hậu quả làm ông T1 tử vong.
Hành vi của bị cáo Hồ Thanh N đã vi phạm vào khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ và khoản 1 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông trên đường bộ.
- Tại khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định:
"Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm:
...
23. Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ".
- Tại khoản 1 Điều 5 Thông tư 31 quy định:
- 5 -
"Điều 5. Các trường hợp phải giảm tốc độ. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:
1. Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường..."
Hành vi gây tai nạn giao thông của bị cáo N dẫn đến làm chết ông Lê Văn T1 như phân tích trên, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự thì:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người; ...”.
Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình chấp hành luật giao thông đường bộ tại địa phương; gây hoang mang, lo lắng cho mọi người mỗi khi phải tham gia giao thông trên đường; làm cho gia đình người bị hại phải mất mát, đau thương và lâm vào tình cảnh khó khăn, tạo ra gánh nặng cho gia đình và xã hội. Bị cáo đã được cấp giấy phép lái xe theo quy định, là có hiểu biết nhất định về Luật Giao thông đường bộ, nhận biết rằng khi điều khiển xe môtô tham gia giao thông, là nguồn nguy hiểm cao độ dễ gây nguy hiểm nếu người điều khiển không chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của luật giao thông đường bộ. Lỗi trong vụ án này là do bị cáo không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi gặp chướng ngại vật là người đi bộ trên đường dẫn đến tai nạn, làm ông Lê Văn T1 tử vong. Khi thực hiện tội phạm bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, gây nguy hiểm cho bản thân và những người tham gia giao thông khác, nhưng bị cáo không tuân thủ đúng quy tắc giao thông, thiếu ý thức chấp hành pháp luật để cho hậu quả xảy ra.
Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nên cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo biết chấp hành pháp luật, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa loại tội phạm này trong tình hình hiện nay.
[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
- 6 -
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện khắc phục một phần hậu quả, bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, tuy bị cáo mới chỉ bồi thường được 50.000.000 đồng, nhưng tại phiên tòa bị cáo cũng có thiện chí đồng ý tiếp tục bồi thường số tiền còn lại cho gia đình người bị hại, nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng trọn vẹn tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, bị cáo được xem xét các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Đại diện hợp pháp của những người ở hàng thừa kế thứ nhất của người bị hại là ông Trần Quang V yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí cho việc điều trị cấp cứu 16.010.900 đồng, chi phí mai táng 66.664.000 đồng, chi phí tổn thất tinh thần cho vợ và con của người bị hại 24 tháng lương tối thiểu (2.340.000 đồng/tháng) là 56.160.000 đồng, tổng cộng làm tròn là 218.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường được 50.000.000 đồng, nên yêu cầu bồi thường tiếp số tiền còn lại 168.000.000 đồng. Đối với chi phí nuôi bệnh và thu nhập bị mất của người nuôi bệnh 7.500.000 đồng, chi phí thuê rạp làm đám tang 33.000.000 đồng; ông V, bà E, anh S tự nguyện không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền này. Bị cáo đồng ý bồi thường tiếp số tiền 168.000.000 đồng cho gia đình người bị hại.
Xét sự thỏa thuận bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả của người đại diện hợp pháp của những người ở hàng thừa kế thứ nhất của người bị hại và bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[7] Về vật chứng: Xe mô tô biển số 63B8 – 534.89 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 63B8-534.89 do bị cáo đứng tên. Đây là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo, hiện bị cáo chưa thi hành xong phần trách nhiệm dân sự và án phí, nên xét tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án; khi bị cáo thi hành xong phần trách nhiệm dân sự và án phí thì trả tài sản này lại cho bị cáo.
[8] Lời luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố và hướng giải quyết về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, Hội đồng xét xử có xem xét khi quyết định.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Do nhận định bị cáo có tội và phải bồi thường trách nhiệm dân sự, nên bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
[10] Về quyền kháng cáo: bị cáo, những người ở hàng thừa kế thứ nhất của người bị hại được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
- 7 -
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hồ Thanh N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Hồ Thanh N 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 591, Điều 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Ghi nhận việc bị cáo Hồ Thanh N có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường thiệt hại cho những người ở hàng thừa kế thứ nhất của người bị hại Lê Văn T1 là bà Phạm Thị Kim E và anh Lê Phước S số tiền 168.000.000 đồng (một trăm sáu mươi tám triệu đồng). Thực hiện khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bà Phạm Thị Kim E và anh Lê Phước S có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong; bị cáo Hồ Thanh N phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tiếp tục tạm giữ 01 xe mô tô biển số 63B8 – 534.89 và 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 63B8 – 534.89 của bị cáo Hồ Thanh N để đảm bảo thi hành án (theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31/7/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú Đông).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Hồ Thanh N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 8.400.000 đồng (tám triệu bốn trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- 8 -
Bị cáo; những người ở hàng thừa kế thứ nhất của người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Minh Quân |
Bản án số 11/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG – TỈNH TIỀN GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự)
- Số bản án: 11/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG – TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồ Thanh Nhàn vi phạm giao thông
