TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2024/HNGĐ - ST Ngày: 15/8/2024 V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình và con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH HÒA BÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông: Vũ Hải Dương.
Hội thẩm nhân dân: Bà: Hoàng Thị Thu Hiền; Ông: Nguyễn Hữu Sinh.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Đỗ Thị Thanh Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Hòa Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mai, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 42/2024/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024, về tranh chấp hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024; giữa:
Nguyên đơn: chị Lò Minh H, sinh năm 1986. (Vắng mặt - Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Bản P, xã C, TP S, tỉnh Sơn La.
Bị đơn: anh Bùi Văn N, sinh năm 1977. (Vắng mặt - Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: khu Đ, thị trấn B, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
Người làm chứng:
Ông Vũ Văn H1, sinh năm 1960; ông Bùi Văn T, sinh năm 1966. (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: khu Đ, thị trấn B, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Lò Minh H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị Lò Minh H kết hôn với anh Bùi Văn N ngày 14/11/2012; hai bên kết hôn do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân (UBND) xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình (Nay là UBND thị trấn B, huyện L, tỉnh Hòa Bình). Sau khi kết
hôn chị H về chung sống cùng gia đình anh N tại khu Đ, thị trấn B, huyện L, tỉnh Hòa Bình được 3 tháng thì hai anh chị cùng đi lên Bản P, xã C, TP S, tỉnh Sơn La sinh sống. Thời gian vợ chồng chung sống hạnh phúc không lâu thì nảy xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống trong xây dựng kinh tế gia đình. Mâu thuẫn đỉnh điểm đến tháng 6/2020 anh N trở về quê nhà tại khu Đ, thị trấn B, huyện L, tỉnh Hòa Bình và sống ly thân với chị H từ đó đến nay.
Chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị đã làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện L giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bùi Văn N.
Về con chung: Chị H khai trong quá trình chung sống chị và anh N có một con chung là cháu Bùi Công T1, sinh ngày 16/01/2014. Chị H có nguyện vọng nuôi con và chưa yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Toà án nhân dân huyện L đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho anh N. Tại biên bản lấy lời khai anh N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh xác nhận lời khai của chị H về thời gian, điều kiện kết hôn là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng anh sống hạnh phúc được một thời gian thì mâu thuẫn nảy sinh. Mâu thuẫn đỉnh điểm là vào năm 2020 anh N về quê tại khu Đ, thị trấn B, huyện L, tỉnh Hòa Bình và sống ly thân với chị H từ đó cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn anh N cho rằng đó là vì anh chị bất đồng quan điểm về nơi sinh sống của hai vợ chồng, chị H không muốn về cùng anh N sinh sống tại khu Đ, thị trấn Ba Hàng Đ. Nay chị H xin ly hôn, quan điểm của anh là đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh xác nhận lời khai của chị H trong quá trình chung sống anh chị có 01 con chung là cháu cháu Bùi Công T1, sinh ngày 16/01/2014. Do chị H có nguyện vọng nuôi con là cháu Bùi Công T1 và chưa yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con nên anh đồng ý giao cháu T1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng và anh chưa phải cấp dưỡng nuôi cháu T1.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình thu tập tài liệu, chứng cứ và lấy lời khai của người làm chứng đều xác nhận về mâu thuẫn gia đình giữa chị H và anh N, hai bên đã không chung sống cùng nhau từ năm 2020 đến nay.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử nghị án: Trong quá trình Toà án giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký tòa án đã tuân thủ đúng theo Bộ luật tố tụng dân sự. Việc xét xử vắng mặt các đương sự theo đúng quy định của BLTTDS.
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lò Minh H, tuyên xử cho
chị Lò Minh H được ly hôn với anh Bùi Văn N.
Về con chung: Giao cháu Bùi Công T1, sinh ngày 16/01/2014 cho chị H trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến khi cháu trưởng thành. Anh N được quyền thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.
Chị H chưa yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập.
Về tài sản chung, công nợ chung: chị H, anh N xác nhận về tài sản chung và công nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề cập.
Về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị HĐXX tuyên theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; HĐXX nhận định:
[1] Về thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án: Bị đơn anh Bùi Văn N, có hộ khẩu thường trú tại khu Đ, thị trấn B, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Chị H có yêu cầu khởi kiện tranh chấp hôn nhân gia đình. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thì đây là tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Hòa Bình.
[2] Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Các đương sự đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ; tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, người làm chứng vắng mặt; căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 2 Điều 229 BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[3] Về nội dung vụ án:
* Về quan hệ hôn nhân: Ngày 14/11/2012 chị Lò Minh H và anh Bùi Văn N kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân (UBND) xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình (Nay là UBND thị trấn B, huyện L, tỉnh Hòa Bình); đây là hôn nhân hợp pháp, tiến bộ.
Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng trong việc xây dựng kinh tế gia đình, quan điểm sống của hai vợ chồng không hòa hợp. Vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2020 cho đến nay. Thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.
Về phía anh N cũng xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh và chị H đã đến đỉnh điểm, không thể hàn gắn được, chị H kiên quyết ly hôn, quan điểm của anh N cũng đồng ý ly hôn với chị H.
Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh N đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lò Minh H.
* Về con chung: Trong quá trình chung sống theo xác nhận của chị H, anh N anh chị có một con chung là cháu Bùi Công T1, sinh ngày 16/01/2014.
Cháu T1 có nguyện vọng được ở với mẹ là chị H; chị H có nguyện vọng tiếp tục được nuôi cháu T1 sau khi ly hôn, anh N cũng đồng ý nên HĐXX căn cứ Điều 81, 82,
83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao con chung là cháu Bùi Công T1, sinh ngày 16/01/2014 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng.
Chị H chưa yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không đề cập.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; yêu cầu cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
* Về tài sản chung, công nợ chung: chị H, anh N đều xác nhận về tài sản chung và công nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không đề cập.
[4] Về án phí: chị Lò Minh H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; khoản 2 Điều 229; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Tuyên xử:
+ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lò Minh H, tuyên xử cho chị Lò Minh H được ly hôn với anh Bùi Văn N.
+ Về con chung: Giao cháu Bùi Công T1, sinh ngày 16/01/2014 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng.
Chị H chưa yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi cháu T1 nên không giải quyết.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; yêu cầu cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
+ Về án phí: chị Lò Minh H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001929 ngày 19/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Thủy. Chị H đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Chị Lò Minh H và anh Bùi Văn N vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Vũ Hải Dương |
Bản án số 11/2024/HNGĐ - ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH HÒA BÌNH về tranh chấp hôn nhân gia đình và con chung
- Số bản án: 11/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình và con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị H ly hôn anh Ng
