|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 11/2024/HS-ST Ngày 15/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Khỏe
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Văn Hoàn
2. Bà Lê Thị Vân
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Diễm Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị Ú, tên gọi khác: Út Cẩm L; giới tính: nữ; sinh ngày 01/01/1957 tại tỉnh Tiền Giang; Đăng ký thường trú: ấp D, xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Cha: Nguyễn Văn D, sinh năm 1911 (đã chết); Mẹ: Trương Thị T, sinh năm 1911 (đã chết); A, chị, em ruột có 8 người, lớn nhất sinh năm 1935, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; Chồng: Phạm Văn H, sinh năm 1960; Bị cáo có 02 con, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 1995; Tiền sự, Tiền án: Không; Bị cáo Nguyễn Thị Ú bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/8/2023 đến nay (có mặt).
* Người bị hại:
- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1944 (có mặt).
Địa chỉ: ấp C, xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang. - Anh Trương Văn Q, sinh năm 1986 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp M, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1955 (có mặt).
Địa chỉ: ấp C, xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang. - Anh Nguyễn Thiện T2, sinh năm 1992 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp C, xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang. - Bà Lê Thị A, sinh năm 1951 (có mặt).
Địa chỉ: ấp M, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. - Anh Nguyễn Văn Bé E, sinh năm 1980 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp M, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. - Chị Châu Thùy T3, sinh năm 1978 (có mặt).
Địa chỉ: ấp M, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. - Anh Ngô Hoàng D1, sinh năm 1980 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp C, xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang. - Anh Ngô Văn E1, sinh năm 1973 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp D xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang. - Chị Ngô Thị Kim T4, sinh năm 1982 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp C xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang. - Anh Lê Thanh T5, sinh năm 1987 (vắng mặt).
Địa chỉ: số C, Đường số A, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. - Chị Trần Thị B1, sinh năm 1975 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp D, xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang. - Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1967 (có mặt).
Địa chỉ: ấp D, xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang. - Bà Trần Thị B2, sinh năm 1973 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp D, xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang. - Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1960 (có mặt).
Địa chỉ: ấp M, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. - Anh Phạm Văn T6, sinh năm 1978 (vắng mặt).
Địa chỉ: khu phố E, phường E, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. - Bà Phạm Thị A1, sinh năm 1968 (vắng mặt).
Địa chỉ: số B, khu phố C, phường E, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. - Ông Nguyễn Văn B3, sinh năm 1973 (có mặt).
Địa chỉ: ấp M, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang. - Chị Nguyễn Hồng G, sinh năm 1980 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp D, xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang. - Chị Phạm Thị Ngọc B4, sinh năm 1980 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp M, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang. - Anh Phạm Văn G1, sinh năm 1955 (có mặt).
Địa chỉ: ấp D, xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang. - Anh Ngô Văn S, sinh năm 1986 (vắng mặt).
Địa chỉ: số B, khu phố C, phường E, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị Ú làm chủ hụi tổ chức góp hụi trên địa bàn xã C, huyện C từ năm 1997 để hưởng hoa hồng, dưới hình thức mở nhiều dây hụi khui mỗi tháng một lần, giá trị 01 phần hụi từ 200.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Trong thời gian từ năm 1997 đến năm 2018, Ú làm chủ hụi thu các phần hụi và giao hụi cho thành viên được lĩnh hụi trong mỗi kỳ mở hụi đầy đủ, đúng hạn, đã tạo sự tin tưởng của các hụi viên tham gia góp hụi. Lợi dụng việc hụi viên tin tưởng, không tham gia khui hụi đầy đủ, không kiểm tra cụ thể từng người tham gia các phần hụi trong dây hụi, Nguyễn Thị Ú đã dùng thủ đoạn gian dối ghi tên khống của những người không tham gia vào dây hụi để hốt hụi nhằm chiếm đoạt tiền của hụi viên với mục đích trả nợ cho các khoản nợ, choàng hụi và tiêu xài cá nhân. Đến tháng 4 năm 2020 âm lịch (tháng 5/2020 dương lịch), Nguyễn Thị Ú ngừng hụi (vỡ hụi) do không còn khả năng thanh toán tiền cho hụi viên. Cụ thể trong năm 2019, Nguyễn Thị Ú đã ghi khống tên hụi viên vào 02 dây hụi tháng 10.000.000 đồng để chiếm đoạt tiền của hụi viên.
- Dây thứ nhất: Hụi tháng (01 tháng khui 01 lần), 10.000.000 đồng, mở ngày 15/6/2019 âm lịch, có 31 phần, gồm:
- + Nguyễn Thị B, sinh năm 1955, địa chỉ: ấp C, xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang tham gia 05 phần (ghi tên Út B5 và Q1 Út Bé);
- + Nguyễn Thiện T2, sinh năm 1992, địa chỉ: ấp C, xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang tham gia 01 phần (ghi tên Tý Út Đ);
- + Lê Thị A, sinh năm 1951, địa chỉ: ấp M, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang tham gia 01 phần (ghi tên 2 Cu);
- + Nguyễn Văn Bé E, sinh năm 1980, địa chỉ: ấp M, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang tham gia 01 phần (ghi tên T2);
- + Nguyễn Thị T1, sinh năm 1944, địa chỉ: ấp C, xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang tham gia 02 phần (ghi tên Q2);
- + Châu Thùy T3, sinh năm 1978, địa chỉ: ấp M, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang tham gia 01 phần (ghi tên H2);
- + Ngô Hoàng D1, sinh năm 1980, địa chỉ: ấp C, xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang tham gia 01 phần (ghi tên D1);
- + Ngô Văn E1, sinh năm 1973, địa chỉ: ấp D xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang tham gia 01 phần (ghi tên 9 Em);
- + Ngô Thị Kim T4, sinh năm 1982, địa chỉ: ấp C xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang tham gia 01 phần (ghi tên C);
- + Lê Thanh T5, sinh năm 1987, địa chỉ: số C, Đường số A, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh tham gia 02 phần (ghi tên Thúy Út Đ1);
- + Trần Thị B1, sinh năm 1975, địa chỉ: ấp D xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang tham gia 02 phần (ghi tên Vợ Bé 5);
- + Nguyễn Thị X, sinh năm 1967, địa chỉ: ấp D xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang tham gia 01 phần (ghi tên 2 Hoàng);
- +Trần Thị B2, sinh năm 1973, địa chỉ: ấp Ấ, xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang tham gia 01 phần (ghi tên H3);
- + Nguyễn Thị H4, sinh năm 1966, địa chỉ: ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang tham gia 01 phần (ghi tên H5);
- + Nguyễn Thị N, sinh năm 1963, địa chỉ: ấp P, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang tham gia 01 phần (ghi tên H6);
- + Nguyễn Thị H1, sinh năm 1960, địa chỉ: ấp M, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang tham gia 01 phần (ghi tên 4 T);
- + Nguyễn Thị Ú tham gia 02 phần (ghi tên Ú);
- + Phạm Văn T6, sinh năm 1978, địa chỉ: khu phố E, phường E, thị xã C, tỉnh Tiền Giang tham gia 01 phần (ghi tên T6).
Tổng cộng 27 phần có hụi viên tham gia; còn lại 04 phần hụi được Ú ghi thêm tên S tham gia 02 phần và tên B4 tham gia 02 phần. Dây hụi đã khui được 11 kỳ, trong đó có 08 phần hốt thật ở 08 kỳ, còn lại 03 kỳ Ú lấy tên S hốt ở kỳ 5 được số tiền 203.600.000 đồng và kỳ 6 được số tiền 203.800.000 đồng, lấy tên Bích hốt ở kỳ 11 được số tiền 128.500.000 đồng, tổng cộng 535.900.000 đồng. Dây hụi còn lại 20 phần hụi sống, hụi viên đã đóng số tiền 2.225.350.000 đồng.
- Dây thứ hai: Hụi tháng (01 tháng khui 01 lần), 10.000.000 đồng, mở ngày 10/8/2019 âm lịch, có 31 phần, gồm:
- + Ngô Thị Kim T4, sinh năm 1982, địa chỉ: ấp C xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang tham gia 01 phần (ghi tên C);
- + Nguyễn Thị T1, sinh năm 1944, địa chỉ: ấp C, xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang tham gia 02 phần (ghi tên Q2);
- + Nguyễn Văn B3, sinh năm 1973, địa chỉ: ấp M, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang tham gia 01 phần (ghi tên B3);
- + Nguyễn Thị Kiều H7, sinh năm 1964, địa chỉ: ấp C, xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang tham gia 01 phần (ghi tên K);
- + Ngô Hoàng D1, sinh năm 1980, địa chỉ: ấp C, xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang tham gia 01 phần (ghi tên D1);
- + Lê Thanh T5, sinh năm 1987, địa chỉ: số C, Đường số A, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh tham gia 02 phần (ghi tên Thúy Út Đ1);
- + Phạm Văn T6, sinh năm 1978, địa chỉ: khu phố E, phường E, thị xã C, tỉnh Tiền Giang tham gia 02 phần (ghi tên T6);
- + Trương Anh Q3, sinh năm 1986, địa chỉ: ấp M, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang tham gia 01 phần (ghi tên Q3);
- + Nguyễn Thị X, sinh năm 1967, địa chỉ: ấp D xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang tham gia 01 phần (ghi tên vợ 2 H8);
- + Ngô Văn E1, sinh năm 1973, địa chỉ: ấp D xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang tham gia 01 phần (ghi tên 9 Em);
- + Nguyễn Thiện T2, sinh năm 1992, địa chỉ: ấp C, xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang tham gia 01 phần (ghi tên Tý Út Đ);
- + Phạm Thị H9, sinh năm 1963, địa chỉ: ấp D, xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang tham gia 01 phần (ghi tên 3 Đòn);
- + Nguyễn Văn T7, sinh năm 1961, địa chỉ: ấp C, xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang tham gia 01 phần (ghi tên Út Đ);
- +Trần Thị B2, sinh năm 1973, địa chỉ: ấp Ấ, xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang tham gia 01 phần (ghi tên H3);
- + Nguyễn Thị B, sinh năm 1955, địa chỉ: ấp C, xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang tham gia 02 phần (ghi tên Út B5);
- + Nguyễn Hồng G, sinh năm 1980, địa chỉ: ấp D, xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang tham gia 01 phần (ghi tên G);
- + Trần Thị B1, sinh năm 1975, địa chỉ: ấp D xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang tham gia 01 phần (ghi tên Vợ Bé 5);
- + Nguyễn Thị Ú tham gia 02 phần (ghi tên Ú);
- + Phạm Thị A1, sinh năm 1968, địa chỉ: số B, khu phố C, phường E, thị xã C, tỉnh Tiền Giang tham gia 01 phần (ghi tên Ngọc A2);
- + Nguyễn Thị N, sinh năm 1963, địa chỉ: ấp P, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang tham gia 01 phần (ghi tên H6);
- + Nguyễn Thị H4, sinh năm 1966, địa chỉ: ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang tham gia 01 phần (ghi tên H5);
Tổng cộng 26 phần có hụi viên tham gia; còn lại 05 phần hụi, Ú ghi thêm tên S tham gia 01 phần; tên B4 tham gia 02 phần; tên G1 tham gia 01 phần; tên Như tham gia 01 phần. Dây hụi đã khui được 09 kỳ, trong đó có 06 phần hốt thật ở 06 kỳ, còn lại 03 kỳ Ú lấy tên G1 hốt ở kỳ 2 được số tiền 148.200.000 đồng; lấy tên Như hốt ở kỳ 3 được số tiền 162.950.000 đồng, Bích hốt ở kỳ 8 được số tiền 154.800.000 đồng, tổng cộng 465.000.000 đồng. Dây hụi còn lại 22 phần hụi sống, hụi viên đã đóng số tiền 1.705.550.000 đồng.
Đối với 02 dây hụi trên, các hụi viên Nguyễn Thiện T2, Nguyễn Thị X, Nguyễn Văn T7, Lê Thị A, Phạm Thị H9, Ngô Thị Kim T4, Nguyễn Văn B3, Nguyễn Thị B, Nguyễn Hồng G, Lê Thanh T5, Trần Thị B1, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Văn Bé E, Nguyễn Văn H10, Nguyễn Thị Kiều H7 (Triệu Văn T8) khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, được Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy ra Bản án hoặc Quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa Nguyễn Thị Ú và hụi viên. Đối với hụi viên Nguyễn Thị H4 và Nguyễn Thị N không khởi kiện và không yêu cầu giải quyết, tự thoả thuận với Nguyễn Thị Út . Riêng 02 hụi viên Nguyễn Thị T1 và Trương Anh Q3 tố cáo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T9, bà T1 và ông Q3 đã bị Nguyễn Thị Ú chiếm đoạt tiền số tiền tổng cộng 117.200.000 đồng, cụ thể như sau:
- + Dây hụi ngày 15/6/2019 âm lịch, Nguyễn Thị Ú đã gian dối ghi tên khống của hụi viên để hốt hụi ở 03 kỳ (kỳ 5 số tiền 15.600.000 đồng; kỳ 6 số tiền 15.600.000 đồng; kỳ 11 số tiền 15.800.000 đồng), chiếm đoạt của Nguyễn Thị T1 số tiền 47.000.000 đồng.
- + Dây hụi ngày 10/8/2019 âm lịch, Nguyễn Thị Ú đã gian dối ghi tên khống của hụi viên để hốt hụi ở 03 kỳ (kỳ 2 số tiền 15.600.000 đồng; kỳ 3 số tiền 15.600.000 đồng; kỳ 8 số tiền 15.600.000 đồng), chiếm đoạt của Nguyễn Thị T1 số tiền 46.800.000 đồng; chiếm đoạt của Trương A3 Quân số tiền 23.400.000 đồng (kỳ 2 số tiền 7.800.000 đồng; kỳ 3 số tiền 7.800.000 đồng; kỳ 8 số tiền 7.800.000 đồng), tổng cộng chiếm đoạt số tiền 70.200.000 đồng.
Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thị Ú có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Quá trình hỏi cung bị cáo, được ghi hình có âm thanh, chép sang đĩa DVD lưu vào hồ sơ vụ án. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên.
Vật chứng thu giữ, gồm: 01 sổ hụi được đánh số thứ thự từ 01 đến 192 (ký hiệu Sổ I) và sổ hụi được đánh số thứ tự 01 đến 192 (ký hiệu Sổ II) do Nguyễn Thị Ú tự nguyện giao nộp; 52 sổ hụi theo dõi hụi của hụi viên.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị T1, T Q3 yêu cầu Nguyễn Thị Ú bồi thường số tiền đã chiếm đoạt, hiện bị cáo chưa bồi thường.
Căn cứ vào các tình tiết và chứng cứ nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 64/CT-VKSTG-P2 ngày 29/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ú về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy đã phân tích, đánh giá tính chất của vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Út p “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
* Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ú phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ú từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
* Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường số tiền 93.800.000 đồng cho bà Nguyễn Thị T1; bồi thường số tiền 23.400.000 đồng cho anh Trương A3 Q3.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Bị hại anh Trương Văn Q; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thiện T2, Nguyễn Văn Bé E, Ngô Hoàng D1, Ngô Văn E1, Ngô Thị Kim T4, Lê Thanh T5, Trần Thị B1, Trần Thị B2, Phạm Văn T6, Phạm Thị A1, Nguyễn Hồng G, Phạm Thị Ngọc B4, Ngô Văn S vắng mặt, sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận về hành vi đã thực hiện đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời thừa nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 15/6/2019 âm lịch đến khoảng tháng 4/2020 âm lịch, tại ấp D, xã C, huyện C, tỉnh Tiền Giang, Nguyễn Thị Ú làm chủ thảo hụi đã lợi dụng sự tin tưởng của các thành viên tham gia góp hụi, ghi khống tên những người không tham gia chơi hụi vào danh sách hụi viên của dây hụi tháng 10.000.000 đồng, khui ngày 15/6/2019 âm lịch để hốt hụi chiếm đoạt số tiền 47.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị T1 và dây hụi tháng 10.000.000 đồng, khui ngày 10/8/2019 âm lịch để hốt hụi chiếm đoạt số tiền 46.800.000 đồng của bà Nguyễn Thị T1 và chiếm đoạt số tiền 23.400.000 đồng của ông Trương Anh Q3, tổng cộng số tiền 70.200.000 đồng. Tổng số tiền chiếm đoạt 117.200.000 đồng, nên bị cáo Nguyễn Thị Ú phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự, nên cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Xét, hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó gây mất trật tự an ninh của địa phương, gây bất bình trong dư luận xã hội, đồng thời bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật; nhưng do bị cáo lười lao động, mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác để lấy tiền phục vụ lợi ích tiêu sài của bản thân nên bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răng đe giáo dục bị cáo thành công dân tốt có ích cho xã hội.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”. Hội đồng xét xử xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo có thu nhập thấp, nên Hội đồng xét xử không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với các hụi viên đã bị Nguyễn Thị Ú thực hiện hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản nhưng hiện nay đã được Toà án nhân dân huyện Cai Lậy xét xử ra Bản án, hoà giải ra Quyết định công nhận sự thoả thuận giữa các đương sự, đã có hiệu lực pháp luật. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T9 đã ban hành Văn bản số 2018/VPCQCSĐT ngày 21/8/2023 kiến nghị Toà án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh và Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị huỷ các Quyết định công nhận thoả thuận giữa Nguyễn Thị Ú với các hụi viên. Cho đến nay Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã có thông báo cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T9 ngày 29/3/2024 không có căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với quyết định công nhận sự thỏa thuận số 18/2022/QÐST-DS ngày 03/3/2022 của bà Văn Thị H11; quyết định số 28/2021/QÐST-DS ngày 26/4/2021 bà Nguyễn Thị B; quyết định số 15/2022/QĐST-DS ngày 03/3/2022 của bà Ngô Thị Kim T4; quyết định số 25/2022/QÐST-DS ngày 14/3/2022 của ông Nguyễn Văn B3 và bà Lê Thị Kim E2. Còn lại 08 vụ đến nay chưa có kết quả, Cơ quan điều tra sẽ tách, điều tra xử lý sau.
[7] Về vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ và lưu vào hồ sơ vụ án các tài liệu đồ vật gồm: 01 sổ hụi được đánh số thứ thự từ 01 đến 192 (ký hiệu Sổ I) và sổ hụi được đánh số thứ tự 01 đến 192 (ký hiệu Sổ II) do Nguyễn Thị Ú tự nguyện giao nộp; 52 sổ hụi theo dõi hụi của hụi viên. Đây là các tài liệu đồ vật có liên quan trực tiếp đến vụ án, nên Hội đồng xét xử tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị T1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền đã chiếm đoạt 93.800.000 đồng; anh Trương A3 Q3 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền chiếm đoạt 23.400.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền này. Xét, đây là sự nguyện của bị cáo nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[9] Xét, lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với một phần nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận một phần đề nghị của Kiểm sát viên.
[10] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án nên buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 5.860.000 đồng (Năm triệu tám trăm sáu mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ú phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ú 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để Thi hành án.
- Về vật chứng: Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án các vật chứng gồm: 01 sổ hụi được đánh số thứ thự từ 01 đến 192 (ký hiệu Sổ I) và sổ hụi được đánh số thứ tự 01 đến 192 (ký hiệu Sổ II) do Nguyễn Thị Ú tự nguyện giao nộp; 52 sổ hụi theo dõi hụi của hụi viên.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 589, khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Thị Ú bồi thường cho người bị hại bà Nguyễn Thị T1 số tiền 93.800.000 đồng (Chín mươi ba triệu tám trăm ngàn đồng); Bồi thường cho anh Trương A3 Quân số tiền 23.400.000 đồng (Hai mươi ba triệu bốn trăm ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự. - Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Ú phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 5.860.000 đồng (Năm triệu tám trăm sáu mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. - Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo Nguyễn Thị Ú, người bị hại bà Nguyễn Thị T1; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B, bà Lê Thị A, chị Châu Thùy T3, bà Nguyễn Thị X, ông Nguyễn Văn B3, anh Phạm Văn Giàu c quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại anh Trương Văn Q; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thiện T2, Nguyễn Văn Bé E, Ngô Hoàng D1, Ngô Văn E1, Ngô Thị Kim T4, Lê Thanh T5, Trần Thị B1, Trần Thị B2, Phạm Văn T6, Phạm Thị A1, Nguyễn Hồng G, Phạm Thị Ngọc B4, Ngô Văn S được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hồ Văn Khỏe |
Bản án số 11/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG về hình sự sơ thẩm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 11/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Ú phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 174 BLHS 2015
