Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2024/HSPT-CTN

Ngày 14-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sỹ

Các Thẩm phán:

Bà Đinh Thị Như Phượng

Bà Cao Thị Thanh Huyền

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Minh Chiến, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hòa - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 14 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 19/2024/TLPT-HS-CT N ngày 08 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Xuân N (Bờm) do có Quyết định giám đốc thẩm số: 16/2024/HS-GĐT ngày 16-07-2024 của Tòa án nhân cấp cao tại Đà Nẵng đối với Bản án hình sự phúc thẩm số: 11/2023/HS-PT-CTN ngày 13 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

1. Bị cáo Nguyễn Xuân N (Bờm);

sinh năm 1994 tại Quảng Trị; Trú tại: Thôn L, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Xuân N1, sinh năm 1953 và bà Thái Thị T, sinh năm 1959; Bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không;

Bị cáo đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam G. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. Có mặt.

2. Bị hại:

  • -Chị Võ Thị P, sinh năm 1988; địa chỉ: D V, tổ I, phường Y, tp., tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  • -Cháu Nguyễn Hoài Quỳnh A, sinh năm 2012; địa chỉ: D V, tổ I, phường Y, tp ., tỉnh Gia Lai. Văng mặt.

Người đại diện hợp pháp cho cháu Quỳnh A1: Anh Nguyễn S, sinh năm 1979 và chị Võ Thị P, sinh năm 1988. Có mặt.

3. Người bào chữa cho bị cáo:

Ông Lê Phước V, sinh năm 1948 – Luật sư của Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư thành phố C; Địa chỉ: 5 T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ. Có mặt.

4. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị bị hại Võ Thị P và cháu Nguyễn Hoài Quỳnh A:

Ông Đặng Ngọc B - Luật sư thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh G. Có mặt.

5. Bị đơn dân sự:

Anh Phạm Oanh V1, sinh năm 1985 và chị Mai Thị Tuyết N2, sinh năm 1985; Địa chỉ: H T, tổ A, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

6. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn dân sự:

ông Phạm Minh T1 là luật sư của Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư thành phố H; Địa chỉ: P, Tòa T, A X, quận C, thành phố Hà Nội. Có mặt.

7. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Võ Thị Thu S1, sinh năm 1985; Địa chỉ: A K, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  2. Anh Nguyễn S, sinh năm 1979; 451 Võ Văn K, tổ I, phường Y, tp., tỉnh Gia Lai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1.Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Xuân N là người có giấy phép lái xe hạng D theo quy định. Khoảng 10 giờ ngày 27/02/2022, Nguyễn Xuân N điều khiển xe ô tô biển số 81H-010.75 lưu thông trên đường H (Quốc lộ A), phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai theo hướng từ thành phố P đi thành phố K. N điều khiển xe ô tô lưu thông đến đoạn đường KM 1590 + 600 đường H thuộc địa phận Tổ I, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai với tốc độ khoảng 60km/h đến 65km/h (theo lời khai của Nguyễn Xuân N) đến đoạn giao nhau bên phải với đường L, Tổ I, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai, lưu lượng người và phương tiện tham gia giao thông từ hai phía tại khu vực này khá đông. Lúc này, N đang điều khiển xe ô tô biển số 81H-010.75 phía trước xe có các phương tiện xe ô tô, mô tô tham gia giao thông đang giảm tốc độ dừng lại để nhường đường cho xe và các phương tiện khác từ đường L đi ra đường H. Tại thời điểm này, N nhìn thấy phía trước có 01 xe ô tô con 05 chỗ phanh xe dừng lại nên N không kịp xử lý dẫn đến phanh xe gấp và đánh tay lái chuyển hướng xe ô tô lao lên lề đường phải theo hướng đi và đã tông vào xe mô tô biển số 81B2-489.37 do chị Võ Thị P điều khiển chở cháu Nguyễn Huy H (sinh năm 2020) và cháu Nguyễn Hoài Quỳnh A (sinh năm 2012, đều là con chị P) đang dừng đỗ trên lề đường phải. Hậu quả: Chị P và cháu Quỳnh A1 bị thương nặng được đưa đến cấp cứu tại Bệnh viện Q; xe mô tô biển số 81B2-489.37 và xe ô tô biển số 81H-010.75 bị hư hỏng. Đến ngày 07/3/2022, chị Võ Thị P ra Viện, cháu Nguyễn Hoài Quỳnh A được chuyển đến Bệnh viện C, thành phố Hồ Chí Minh để điều trị cho đến ngày 12/04/2022 thì ra Viện.

  • Tại Biên bản kiểm tra nồng độ cồn ngày 27/02/2022 của Nguyễn Xuân N cho kết quả nồng độ cồn là: 0.000mg/l.
  • Tại kết luận giám định tư pháp ngày 11/3/2022 của Sở Giao thông Vận tải tỉnh G, kết luận: Xe ô tô biển số 81H-010.75 tại thời điểm giám định xe không hoạt động được do một số chi tiết, hệ thống bị hư hỏng vì tai nạn giao thông. Trừ các chi tiết, hệ thống bị hư hỏng do tai nạn giao thông, xe có các chi tiết, hệ thống, tổng thành đủ độ bền, đảm bảo tính năng hoạt động, thiệt hại 35.000.000đ. Đối với xe mô tô biển kiểm soát 81B2- 489.37 tình trạng hư hỏng, dập nát, cong vênh, méo mó biến dạng hoàn toàn, thiệt hại 30.000.000đ.
  • Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 323/22/TgT ngày 01/11/2022 của Trung tâm P áp dụng phương pháp cộng theo Thông tư 22/2019/TT-BYT kết luận: Cháu Nguyễn Hoài Quỳnh A tỉ lệ tổn thương cơ thể do tai nạn giao thông tại thời điểm giám định là: 83% (Tám mươi ba phần trăm)..
  • Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 322/22/TgT ngày 25/10/2022 của Trung tâm P áp dụng phương pháp cộng theo Thông tư 22/2019/TT-BYT kết luận: Bà Võ Thị P tỉ lệ tổn thương cơ thể do tai nạn giao thông tại thời điểm giám định là: 14%.
  • Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 322/22/TgT ngày 25/10/2022 của Trung tâm P áp dụng phương pháp cộng theo Thông tư 22/2019/TT-BYT kết luận: Cháu Nguyễn Huy H tỉ lệ tổn thương cơ thể do tai nạn giao thông tại thời điểm giám định là là: 0% (Không phần trăm). Áp dụng phương pháp cộng theo Thông tư 22/2019/TT-BYT.

2. Giải quyết của Tòa án các cấp, kháng cáo, kháng nghị.

2.1. Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2023/HS-ST ngày 15 tháng 05 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân N (Bờm) phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

-Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 260; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; 50, 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân N (Bờm) –18 (Mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 03 (Ba) năm, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Xuân N cho Ủy ban nhân dân xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

-Áp dụng Điều 46; 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 584; 585; 586; 590; 601 của Bộ luật Dân sự:

Buộc anh Phạm Oanh V1 và chị Mai Thị Tuyết N2 phải liên đới bồi thường cho chị Võ Thị P và cháu N3 Hoài Quỳnh A (Do chị Võ Thị P và anh Nguyễn S là người đại diện đương nhiên) tổng số tiền: 424.066.257đ.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí; quyền kháng nghị, kháng cáo của bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định pháp luật.

*Kháng cáo, kháng nghị:

- Người bị hại chị Võ Thị P và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn S, đồng thời là người đại diện hợp pháp cho bị hại cháu Nguyễn Hoài Quỳnh A kháng cáo đề nghị:

  • Không áp dụng khoản 4 Điều 585 BLDS và khoản 4 Điều 3 Nghị quyết 02/2022 ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để trừ lỗi 5% trên tổng số tiền bồi thường cho cháu Nguyễn Hoài Quỳnh A;
  • Áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương để xác định mức bồi thường thu nhập bị mất của người bị hại và người chăm sóc người bị hại, không áp dụng mức lương tối thiểu vùng 140.000 đồng/ngày để tính thu nhập bị mất;
  • Tăng mức bồi thường tổn thất tinh thần cho chị P từ 30 tháng lương lên 50 tháng lương cơ sở.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại chưa thành niên cháu Nguyễn Hoài Quỳnh A là ông Lê Phước V kháng cáo đề nghị:

  • Không áp dụng khoản 4 Điều 585 BLDS và khoản 4 Điều 3 Nghị quyết 02/2022 ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để trừ lỗi 5% trên tổng số tiền bồi thường cho cháu Nguyễn Hoài Quỳnh A.

- Bị đơn dân sự anh Phạm Oanh V1 và chị Mai Thị Tuyết N2 kháng cáo:

Tòa sơ thẩm buộc vợ chồng anh phải bồi thường thiệt hại cho bị hại và người liên quan và phải chịu án phí là không đúng. Đề nghị xem xét lại lỗi của bên bị hại; trách nhiệm bồi thường và nghĩa vụ hoàn trả của người làm công (người gây ra lỗi) đối với chủ phương tiện.

- Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân TP. phố Pleiku kháng nghị:

Đề nghị tăng hình phạt và chuyển hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo thành hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo; đồng thời xem xét lại nội dung về trách nhiệm dân sự.

2.2. Bản án hình sự phúc thẩm số 11/2023/HSPT-CTN ngày 13/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đã quyết định: Căn cứ khoản 3 Điều 342; điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

-Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai về nội dung tăng hình phạt đối với bị cáo.

-Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku và 01 phần kháng cáo của bị hại chị Võ Thị P, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại cháu Nguyễn Hoành Quỳnh A2 là ông Lê Phước V, người đại diện hợp pháp cho cháu A2 là anh Nguyễn S và chị Võ Thị P, bị đơn dân sự anh Phạm Oanh V1 và chị Mai Thị Tuyết N2. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 69/2023/HS-ST ngày 15 tháng 05 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai:

+Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân N (Bờm) –18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

+ Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46; 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 584; 585; 586; 590; 601 của Bộ luật Dân sự.

Buộc Bị cáo Nguyễn Xuân N phải bồi thường cho chị Võ Thị P; cháu Nguyễn Hoài Quỳnh A, anh Nguyễn S và chị Võ Thị Thu S1 số tiền là 526.204.212đ. Giao cho chị Võ Thị P là người đại diện nhận thay.

Anh Phạm Oanh V1 và chị Mai Thị Tuyết N2 liên đới bồi thường cho chị Võ Thị P và cháu Nguyễn Hoài Quỳnh A số tiền 30.000.000đ. Giao cho chị Võ Thị P là người đại diện nhận thay.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí và nghĩa vụ thi hành án dân sự.

2.3. Quyết định giám đốc thẩm số: 16/2024/HS-GĐT ngày 16/7/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã căn cứ vào khoản 1 Điều 328; khoản 3 Điều 388 và Điều 391 của Bộ luật tố tụng hình sự quyết định:

Hủy Bản án hình sự phúc thẩm số 11/2023/HS – PT-CTN ngày 13/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai về phần trách nhiệm dân sự, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để xét xử phúc thẩm lại theo quy định của pháp luật.

3. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:

3.1. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xử buộc bị đơn dân sự là anh Phạm Oanh V1 và chị Mai Thị Tuyết N2 là chủ phương tiện phải có trách nhiệm bồi thường dân sự cho bị hại.

3.2. Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu chủ phương tiện là anh Phạm Oanh V1 và chị Mai Thị Tuyết N2 phải tiếp tục bồi thường số tiền 526.204.212đ.

3.3. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:

  • Căn cứ vào Điều 584; 585; 586; 590; 601 của Bộ luật Dân sự.
  • Chấp nhận mức bồi thường thiệt hại theo như quyết định của Bản án hình sự phúc thẩm số: 11/2023/HS-PT-CTN ngày 13/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
  • Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm buộc bị đơn dân sự là anh Phạm Oanh V1 và chị Mai Thị Tuyết N2 liên đới bồi thường cho chị Võ Thị P và cháu Nguyễn Hoài Quỳnh A số tiền 526.204.212đ.

3.4. Người bào chữa cho bị cáo là ông Lê Phước V trình bày: Thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát buộc bị đơn dân sự là anh Phạm Oanh V1 và chị Mai Thị Tuyết N2 liên đới bồi thường cho chị Võ Thị P và cháu Nguyễn Hoài Quỳnh A.

3.5. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại ông Đặng Ngọc B trình bày: Thống nhất với đề nghị của Viện kiểm sát về phần bồi thường thiệt hại buộc bị đơn dân sự là anh Phạm Oanh V1 và chị Mai Thị Tuyết N2 liên đới bồi thường cho chị Võ Thị P và cháu Nguyễn Hoài Quỳnh A số tiền 526.204.212đ.

3.6. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn dân sự ông Phạm Minh T1 trình bày:

Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự phúc thẩm số: 11/2023/HS-PT-CTN ngày 13/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai về phần bồi thường thiệt hại.

Căn cứ Hợp đồng lao động ký ngày 27/9/2021, giữa chị Mai Thị Tuyết N2 (NPP Vũ Gia P1 là đồng sở hữu xe ô tô 81H-010.75) và Nguyễn Xuân N, về nội dung thỏa thuận thể hiện tại Điều 3 của hợp đồng lao động, đã ghi: “Chấp hành đúng quy định an toàn giao thông khi lái xe. Nếu xảy ra vấn đề liên quan đến pháp luật bên B sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm do hành vi mình gây ra”. Căn cứ Điều 601 Bộ luật Dân sự; Điều 12 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” thì bị cáo Nguyễn Xuân N phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại gây ra cho bị hại, hoặc buộc bị cáo phải hoàn trả số tiền bồi thường cho anh V1, chị N2 nhằm tránh mất thời gian để anh V1, chị N2 khởi kiện một vụ án dân sự đối với bị cáo N.

4.7. Bị đơn dân sự là anh Phạm Oanh V1 và chị Mai Thị Tuyết N2 trình bày: Thống nhất với phần trình bày của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, bị đơn dân sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn dân sự không có ý kiến khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về trách nhiệm dân sự:

2.1. Xét kháng cáo của người bị hại là chị Võ Thị P, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn S đồng thời là người đại diện hợp pháp của bị hại cháu Nguyễn Hoài Quỳnh A và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại.

- Về việc không áp dụng dụng khoản 4 Điều 585 Bộ luật dân sự và khoản 4 Điều 3 Nghị quyết 02/2022 ngày 06/09/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để trừ lỗi 5% trên tổng số tiền bồi thường cho cháu Nguyễn Hoài Quỳnh A.

Tòa án cấp sơ thẩm nhận định bị hại cũng có một phần lỗi khi tham gia giao thông không tuân thủ quy định về đội mũ bảo hiểm cho người ngồi trên xe máy tuy không phải nguyên nhân gây ra tại nạn, nhưng ảnh hưởng đến tổn thương cơ thể của bị hại khi xảy ra tai nạn là không đúng, vì khi xảy ra tai nạn chị P không còn điều khiển xe tham gia giao thông nữa mà đã dừng đỗ trên vỉa hè tức có nghĩa cháu A ngồi trên xe nhưng không phải là tham gia giao thông nên không bắt buộc cháu A phải đội mũ bảo hiểm. Do đó, lỗi trong vụ án này thuộc hoàn toàn thuộc về bị cáo. Vì vậy, kháng cáo nêu trên của bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại là có căn cứ cần được chấp nhận.

-Về mức bồi thường ngày công lao động:

Theo lời khai của chị P, anh S là người bị hại và là người chăm sóc người bị hại cho rằng: Chị P làm nghề mổ bò thu nhập 400.000 - 500.000đ/ngày; anh S làm nghề thợ xây chính thu nhập 400.000đ/ngày. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm không tiến hành xác minh làm rõ thu nhập thực tế bị mất của họ để làm cơ sở giải quyết vụ án, nhưng Tòa sơ thẩm nhận định bị hại chị P và anh S không có thu nhập ổn định và áp dụng thu nhập vùng theo Nghị định số 38/2022/NĐ-CP ngày 12/6/2022 của Chính phủ để xác định thu nhập thực tế bị mất tại thành phố P là vùng III với mức 140.000đ/ngày cho mỗi người là không phù hợp.

Căn cứ vào văn Công văn số: 347/UBND-TH ngày 25/8/2023 của UBND phường Y (bút lục số 498) thì chị Võ Thị P làm nghề giết mổ bò thường xuyên và tương đối ổn định có thu nhập bình quân khoảng 500.000đ/ngày; còn anh S làm nghề thợ xây thu nhập khoảng 350.000₫ – 400.000đ/ngày nên yêu cầu của chị P về việc áp dụng thức thu nhập của chị bị mất là 400.000đ/ngày, còn thu nhập anh S bị mất là 350.000đ/ ngày là có căn cứ phù hợp với thực tế. Tuy nhiên, cũng không thể xác định chị P có thường thường xuyên lao động đủ ngày công trong tháng hay không, và thời gian chị P chăm sóc cháu A rất dài nên Tòa án cấp phúc thẩm xét xử ngày 13/09/2023 căn cứ vào Điều 4 Thông tư số 23/2015/TT-BLĐTBXH ngày 23/6/2015 của Bộ L2 để xác định số ngày công lao động trung bình 01 tháng là 26 ngày để tính ngày công lao động bị mất cho chị P, anh S tổng cộng là 138.600.000 là phù hợp có căn cứ.

-Về mức bồi thường tổn thất tinh thần cho chị P từ từ 30 tháng lương lên 50 tháng lương cơ sở:

Xét thấy chị P thương tích 14% sức khỏe, Tòa sơ thẩm xác định mức bồi thường tổn thất về tinh thần cho chị bồi thường bằng 30 tháng lương cơ sở là phù hợp, nên kháng cáo của chị P về nội dung này là không có cơ sở chấp nhận.

⇨ Tổng số bồi thường được xác định như sau:

-Tiền bồi thường cho chị P gồm: Thu nhập bị mất trong thời gian điều trị là 09 ngày x 400.000đ/ngày = 3.600.000đ; chi phí bồi dưỡng sức khỏe 09 ngày x 140.000đ/ngày = 1.260.000đ; Chi phí điều trị 2.785.093đ; bồi thường tổn thất tinh thần bằng 30 tháng lương cơ sở là 30 tháng x 1.800.000đ = 54.000.000đ và Thu nhập bị mất trong thời gian chăm sóc cháu A (327 ngày x 400.000đ) = 130.800.000đ; Tổng cộng 192.445.093₫

- Tiền bồi thường thu nhập chị S bị mất (trong thời gian chăm sóc chị P do không có thu nhập ổn định và không có kháng cáo) là 9 ngày x 140.000đ/ngày = 1.260.000đ.

- Tiền bồi thường cho cháu Nguyễn Hoài Quỳnh A gồm: Các khoản tiền thuê phương tiện đưa cháu A đến cơ sở khám chữa bệnh và trở về nơi ở, do không có chứng từ hợp lệ nhưng phù hợp thực tế là 150.000.000đ; chi phí cứu chữa trong 82 ngày tại Bệnh viện Q, Bệnh viện Đa khoa tỉnh B, Bệnh viện C là 127.012.249đ; thuốc điều trị sau phẫu thuật mổ não là 1.700.000đ; bồi dưỡng sức khỏe trong 394 ngày là 59.041.505đ; tổn thất tinh thần (50 tháng lương cơ sở x 1.800.000đ) = 90.000.000đ; chi phí phục hồi chức năng 10.545.365đ. Tổng cộng: 438.299.119₫

- Tiền bồi thường ngày công ông S bị mất là 12 ngày x 350.000đ/ngày = 4.200.000đ;

* Tổng số tiền bồi thường cho chị P, cháu Quỳnh A1, anh S và chị S là (192.445.093đ + 1.260.000đ + 438.299.119đ + 4.200.000đ) = 636.204.212₫

2.2. Xét kháng cáo của bị đơn dân sự anh Phạm Oanh V1 và chị Mai Thị Tuyết N2 đề nghị xem xét lại lỗi của bên bị hại; trách nhiệm bồi thường và nghĩa vụ hoàn trả của người làm công (người gây ra lỗi) đối với chủ phương tiện:

- Về lỗi của người bị hại: Như phân tích ở phần xét kháng cáo của bị hại nêu trên thì lỗi trong vụ án này hoàn toàn do bị cáo gây ra, người bị hại không có lỗi.

-Về trách nhiệm bồi thường:

Anh Phạm Oanh V1 và chị Mai Thị Tuyết N2 là vợ chồng, xác định xe ô tô 81H-010.75 do Nguyễn Xuân N điều khiến gây tai nạn cho chị P và cháu Al là tài sản chung của vợ chồng. Vợ chồng chị N2 và anh V1 thuê bị cáo N lái xe chở hàng và trả công hàng tháng 6.500.000đ, lái xe theo sự phân công của anh V1. Theo quy định tại Điều 601 của Bộ luật Dân sự thì “Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Tại điểm b Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 02/2022/NQ- HĐTP, ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn: Ví dụ: A là chủ sở hữu xe ô tô đã giao xe ô tô đó cho B. B lái xe tham gia giao thông đã gây tai nạn và gây thiệt hại thì cân phân biệt:

-Nếu A thuê B lái xe ô tô và trả tiền công cho B, việc sử dụng xe ô tô là do A quyết định. Trong trường hợp này, A là người chiếm hữu, chi phối đối với xe ô tô. Do đó, A phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Theo các quy định nêu trên thì trong trường hợp N gây thiệt hại do lái xe ô tô thì vợ chồng anh V1, chị N2 phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Hội đồng xét xử phúc thẩm ngày 13-09-2023 căn cứ vào nội dung của Điều 3 Hợp đồng lao động ngày 27-9-2021 “Nếu xảy ra vấn đề liên quan đến pháp luật bên B sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm do hành vi mình gây ra” để buộc bị cáo N phải bồi thường cho bị hại là không đúng, bởi lẽ thỏa thuận này không phù hợp với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội, nhằm trốn tránh trách nhiệm bồi thường của chủ sở hữu phương tiện giao thông đường bộ khi có thiệt hại xảy ra. Thỏa thuận này không phù hợp với khoản 3 Điều 601 Bộ luật dân sự, Điều 12 Nghị quyết số 02/2022/NQ- HĐTP, ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Căn cứ Điều 123, Điều 130, Điều 407 Bộ luật dân sự thì Điều 3 Hợp đồng lao động ngày 27-9-2021 giữa bên A là chị Mai Thị Tuyết N2 (chủ sở hữu xe ô tô) với bên B là bị cáo N vô hiệu do mục đích, nội dung của thỏa thuận vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội. Do Điều 3 của Hợp đồng lao động nêu trên vô hiệu nên trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị hại trọng vụ án này thuộc về chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ là anh Phạm Oanh V1 và chị Mai Thị Tuyết N2.

Anh Phạm Oanh V1 và chị Mai Thị Tuyết N2 có quyền khởi kiện yêu cầu bị cáo Nguyễn Xuân N bồi thường bằng một vụ án dân sự khác khi hai bên có thỏa thuận với nhau mà không bảo đảm quyền lợi.

2.3. Xác định lại số tiền bồi thường thiệt hại, án phí tính đến thời điểm xét xử phúc thẩm.

Như đã phân tích trên thì anh Phạm Oanh V1 và chị Mai Thị Tuyết N2 phải có nghĩa vụ liên đới bồi thường 636.204.212đ cho bị hại. Trừ đi số tiền bị cáo đã tự nguyện bồi thường là 13.000.000 đồng, chủ phương tiện là anh V1, chị N2 đã bồi thường 97.000.000 đồng. Anh V2, chị N2 còn phải tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 526.204.212 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Anh Phạm Oanh V1 và chị Mai Thị Tuyết N2 phải liên đới chịu 25.048.168 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 1.500.000 đồng tiền án phí đã nộp theo Công văn số 421/CV-CCTHADS ngày 14/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Pleiku, anh Phạm Oanh V1 và chị Mai Thị Tuyết N2 còn phải nộp 23.548.168 đồng.

Về án phí dân sự phúc thẩm:

Người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Điều luật áp dụng:

  • Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
  • Áp dụng các Điều 123; Điều 130; Điều 407; Điều 584; 585; 586; 590; 601 của Bộ luật Dân sự:
  • Căn cứ Nghị quyết số: 02/2022/NQ- HĐTP, ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về Hướng dẫn áp dụng một số quy định củ Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
  • Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Buộc anh Phạm Oanh V1 và chị Mai Thị Tuyết N2 liên đới bồi thường cho chị Võ Thị P và cháu Nguyễn Hoài Quỳnh A số tiền 526.204.212 đồng. Giao cho chị Võ Thị P và anh Nguyễn S là người đại diện nhận thay.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án(đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về án phí:

Buộc anh Phạm Oanh V1 và chị Mai Thị Tuyết N2 phải liên đới chịu 25.048.168 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 1.500.000 đồng tiền án phí đã nộp theo Công văn số 421/CV-CCTHADS ngày 14/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Pleiku. Anh Phạm Oanh V1 và chị Mai Thị Tuyết N2 còn phải nộp 23.548.168 đồng.

4. Các quyết định khác của bản phúc thẩm số: 11/2023/HS-PT-CTN ngày 13/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai không có kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - TAND thành phố P;
  • - VKSND thành phố P;
  • - Chi cục THADS thành phố P;
  • - Công an thành phố P;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu VT, TGĐ&NCTN, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - chủ tọa phiên toà

Nguyễn Tiến Sỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/HSPT-CTN ngày 14/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về hình sự phúc thẩm (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)

  • Số bản án: 11/2024/HSPT-CTN
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cấp cao hủy về giải quyết lại
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger