Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ THÁI HOÀ

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 11/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 14/8/2023

“V/v ly hôn, nuôi con khi ly hôn”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Diên.

Các Hội thẩm nhân dân :

1. Ông Đậu Đức Đông.

2. Ông Võ Chí Công.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị An - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2023, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 97/2023/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2023, về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 19/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Vi Thị T, sinh năm 1987.

Trú tại: Khối S, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).

Bị đơn: Anh Ninh Công H, sinh năm 1983.

Nơi ĐKHKTT: K, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An.

Hiện đang cai nghiện tại trung tâm cai nghiện ma túy bắt buộc số 1 tỉnh Nghệ An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 12/6/2023 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vi Thị T thống nhất trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Ninh Công H đăng ký kết hôn ngày 17 tháng 12 năm 2010 tại UBND phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung. Mặc dù mâu thuẫn đã được gia đình hòa giải nhưng không có kết quả mà tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Nay tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thể chung sống với nhau được nữa nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ninh Công H.

Về con chung: Vợ chồng chị có hai con chung là Ninh Linh Đ, sinh ngày 02/6/2011 và Ninh Công Lâm P, sinh ngày 16/5/2017, vợ chồng không có con riêng, không nuôi con nuôi.

Nay ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung cho đến khi con chung trưởng thành và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung vì anh H hiện đang cai nghiện tại trung tâm cai nghiện ma túy bắt buộc số 1 tỉnh Nghệ An.

Hiện tại chị làm công nhân cho Công ty M, thu nhập bình quân mỗi tháng từ 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) đến 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) và có khả năng đảm bảo điều kiện tốt nhất có thể để nuôi hai con chung.

Về tài sản: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản khai đề ngày 23/6/2023 bị đơn anh Ninh Công H trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Vi Thị T đăng ký kết hôn ngày 17 tháng 12 năm 2010 tại UBND phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung. Mặc dù mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hòa giải nhưng không có kết quả mà tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Nay tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thể chung sống với nhau được nữa nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh thì anh đồng ý ly hôn với chị T.

Về nuôi con chung: Vợ chồng anh có hai con chung là Ninh Linh Đ, sinh ngày 02/6/2011 và Ninh Công Lâm P, sinh ngày 16/5/2017, không có con riêng, không nuôi con nuôi đúng như chị T đã trình bày.

Nay ly hôn anh đồng ý giao hai con chung của vợ chồng cho chị T trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến lúc con chung trưởng thành.

Chị T không yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con chung, anh không có ý kiến gì.

Về chia tài sản: Vợ chồng tự thỏa thuận nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký: Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Đúng thành phần, đúng quy định từ khi mở phiên toà cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.

Về việc tuân theo pháp luật của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Vi Thị T được ly hôn với anh Ninh Công H.

Về nuôi con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cho chị Vi Thị T trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng hai con chung của chị T và anh H đến lúc con chung trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Vi Thị T không yêu cầu anh Ninh Công H cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về chia tài sản chung: Chị Vi Thị T và anh Ninh Công H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị Vi Thị T phải chịu toàn bộ án phí LHST.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà. Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Vi Thị T yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Thái Hoà giải quyết ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn với anh Ninh Công H đăng ký hộ khẩu thường trú tại khối S, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Thái Hoà.

Nguyên đơn chị Vi Thị T và bị đơn anh Ninh Công H đều có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2] Về nội dung:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị T và anh Ninh Công H đăng ký kết hôn vào ngày 17 tháng 12 năm 2010 tại UBND phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân giữa chị T và anh H được xác lập trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo các điều kiện kết hôn. Do đó hôn nhân giữa chị T, anh H là hợp pháp.

Về nguyên nhân mâu thuẫn: Theo chị T, anh H thì nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung. Mặc dù mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hòa giải nhưng không có kết quả mà tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Tại biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh H tại địa phương xác định quá trình chung sống chị T, anh H có xả ra mâu thuẫn. Mặt khác anh H cũng đồng ý ly hôn với chị T do tình cảm vợ chồng không còn. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị T và anh H đã trầm trọng mà không thể hàn gắn được.

Xét mâu thuẫn giữa chị T và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị T được ly hôn với anh H như ý lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa là có căn cứ.

2.2. Về nuôi con chung: Chị T và anh H có hai con chung là Ninh Linh Đ, sinh ngày 02/6/2011 và Ninh Công Lâm P, sinh ngày 16/5/2017, vợ chồng không ai có con riêng, không nuôi con nuôi.

Xét chị T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung của chị T và anh H và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Chị T hiện đang làm công nhân, thu nhập bình quân mỗi tháng từ 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) đến 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) và điều kiện ăn ở sinh hoạt đảm bảo các điệu kiện tốt nhất để trực tiếp nuôi con chung của vợ chồng. Mặt khác sau khi anh H đi cai nghiện thì chị T là người trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng hai con chung của vợ chồng. Hơn nữa con chung là Ninh Linh Đ cũng có nguyện vọng được ở với chị T. Quá trình Tòa án xác minh tại địa phương xác định được trong quá trình chung sống chị T, anh H đều không ai có hành vi đánh đập, ngược đãi con chung. Mặt khác tại bản tự khai anh H trình bày đồng ý giao hai con chung của vợ chồng cho chị T trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến lúc con chung trưởng thành. Do đó để tạo mọi điều kiện tốt nhất cho hai con chung của chị T và anh H được phát triển toàn diện về thể chất lẫn tinh thần, đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của con chung chưa thành niên khi chị T, anh H ly hôn, cần giao hai con chung của chị T, anh H cho chị T được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng theo quy định tại các Điều 58; 81; 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình như ý kiến của các chị T, anh H và lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa là phù hợp.

Chị T không yêu cầu anh H thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

2.3. Về chia tài sản: Chị Vi Thị T và anh Ninh Công H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Buộc chị Vi Thị T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 238; các Điều 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Vi Thị T được ly hôn với anh Ninh Công H.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao cho chị Vi Thị T trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng hai con chung của chị T và anh H là Ninh Linh Đ, sinh ngày 02/6/2011 và Ninh Công Lâm P, sinh ngày 16/5/2017, đến lúc con chung trưởng thành.

2.2. Chị T không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2.3. Anh Ninh Công H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

2.4. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

3. Về chia tài sản: Chị Vi Thị T và anh Ninh Công H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Chị Vi Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà chị T đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0008837 ngày 12/6/2023, tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An (chị T đã nộp đủ tiền án phí).

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt, được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thị xã Thái Hoà;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Chi cục THADS thị xã Thái Hoà;
  • - UBND P. Quang Phong (để ghi vào sổ hộ tịch);
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lê Văn Diên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2023/HNGĐ-ST ngày 14/08/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An về ly hôn, nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 11/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger