Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2024/DS-PT

Ngày 13-5-2024

“V/v Tranh chấp hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất,

chia thừa kế quyền sử dụng đất,

hợp đồng thuê đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Chí Tâm;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Hoàng;

Ông Trần Ngọc Đằng;

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Hoàng Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Trang - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 15 tháng 4 và ngày 6, ngày 13 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 43/2022/TLST- DS ngày 14 tháng 12 năm 2022, về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chia thừa kế quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê đất"

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 2 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Nguyễn Thị N, sinh năm 1989;

Địa chỉ: Số nhà E, ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Bị đơn:

  1. Nguyễn Văn C, sinh năm 1954 (chết ngày 22/11/2023);
  2. Địa chỉ: Ấp C, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

    Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông C:

    1. Nguyễn Văn H, sinh năm 1974;
    2. Địa chỉ: ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

      Tạm trú: Tổ 9, ấp C, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

    3. Nguyễn Thị D, sinh năm 1977;
    4. Địa chỉ: Khóm B, Phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

      Địa chỉ liên hệ: Chuyền may D10, Công ty TNHH K2 (V) FOOTWEAR, Số A, V đường số C, KCN V - Singapore, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

    5. Nguyễn Thị Bích H1, sinh năm 1980;
    6. Địa chỉ: Số nhà G, tổ C, ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

      Tạm trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

    7. Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1983;
    8. Địa chỉ: ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

      Địa chỉ liên hệ: Số D, Nguyễn Hữu T, thị trấn T, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh

  3. Phan Chí L1, sinh năm 1976;
  4. Địa chỉ: Số nhà H, Ấp C, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  5. Nguyễn Thị T1, sinh năm 1954 (đã chết);
  6. Địa chỉ: Ấp C, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

    Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà T1:

    1. Phan Chí L1, sinh năm 1976;
    2. Địa chỉ: Số nhà H, ấp C, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

    3. Phan Thị Mỹ T2, sinh năm 1974;
    4. Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện T, Đồng Tháp.

      Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Phan Thị Mỹ T2: Luật sư Đỗ Thị Ngọc O – Văn phòng L3 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ.

      Địa chỉ: Số B, khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

    5. Phan Thị Mỹ H2, sinh năm 1982;
    6. Địa chỉ: Số C, Ngách A, thôn Q, xã T, huyện C, Đài Loan.

      Người đại diện hợp pháp của chị Phan Thị Mỹ H2: Ông Phan Chí L1, sinh năm 1976;

      Địa chỉ: Số nhà H, ấp C, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn G, sinh năm 1984;

Địa chỉ: Số nhà A, ấp D, xã V, huyện T, tỉnh Long An.

Người làm chứng:

  1. Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1965;
  2. Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Bà Trần Thị Út E, sinh năm 1964;
  4. Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  5. Bà Trần Thị Mỹ N1, sinh năm 1987;
  6. Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:

Ngày 25/8/2022, chị N và ông Nguyễn Văn C, anh Phan Chí L1 có thỏa thuận về việc chuyển nhượng QSD đất thuộc thửa số 6, tờ bản đồ số 10, diện tích 34.161,9m², đất tọa lạc ấp B, xã T, huyện T với số tiền chuyển nhượng là 1.800.000.000 đồng. Đất do bà Nguyễn Thị T1 (chết 02/4/2022) được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 27/11/2013.

Chị N đã thanh toán cho ông C, anh L1, chị H2 số tiền 1.700.000.000 đồng. Số tiền còn lại là 100.000.000 đồng sẽ thanh toán sau khi làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng đến nay ông C, anh L1, chị H2, chị T2 vẫn không làm thủ tục chuyển nhượng QSD đất nêu trên cho chị. Nên chị N khởi kiện yêu cầu:

Chị N yêu cầu ông C, anh L1, chị T2, chị Mỹ H2 tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng QSD đất thửa đất số 06, tờ bản đồ số 10, diện tích 34.161,9m² (đo đạc thực tế diện tích 33.940,2m²), đất tọa tại ấp B, xã T cho chị N như đã thỏa thuận ngày 25/8/2022.

Đồng ý chia thừa kế theo quy định của pháp luật, phần còn lại phải làm thủ tục chuyển nhượng qua cho chị N.

+ Hợp đồng thuê đất với anh G thì chị N không đồng ý việc chị T2 hợp đồng với anh G mà chuyển sang cho chị N vì chị N đã giao số tiền 1.700.000.000 đồng từ ngày 25/8/2022 đến nay.

+ Đối với việc anh L1 cung cấp thông tin 04 người con của ông C và bà Mỹ K gồm: anh H, chị D, chị L, chị H2 thì chị N đồng ý thống nhất và không có gì kiến gì.

+ Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo chị T2 trình bày có chuyển nhượng 10.000m² đất ruộng của bà T1 thì chị N không có ý kiến. Chị N đề nghị giữ nguyên theo hợp đồng chuyển nhượng của ông C, anh L1 với chị N.

+ Chị N muốn nhận hết phần đất theo hợp đồng chuyển nhượng, nếu phải chia thừa kế cho chị T2 thì số tiền chị đã đưa cho ông C, anh L1 nhận dư thì yêu cầu cá nhân anh L1 trả lại số tiền cho chị N.

- Bị đơn ông Nguyễn Văn C, anh Phan Chí L1, chị Phan Thị Mỹ H2 (do anh L1 đại diện ủy quyền) cũng là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị T1 trình bày:

Ông C sống chung với bà T1 từ năm 1991, không có đăng ký kết hôn. Năm 2003 ông C, bà T1 chuyển nhượng đất của Mai Văn M. Đất giao cho chị T2 sử dụng. Đất bà Nguyễn Thị T1 được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 27/11/2013. Bà T1 chết 02/4/2022.

Ngày 25/8/2022, chị N và ông C, anh L1 có thỏa thuận về việc chuyển nhượng QSD đất thuộc thửa số 6, tờ bản đồ số 10, diện tích 34.161,9m², đất tọa lạc ấp B, xã T, huyện T với số tiền chuyển nhượng là 1.800.000.000 đồng.

Chị N đã thanh toán cho ông C, anh L1 số tiền 1.700.000.000 đồng. Số tiền còn lại là 100.000.000 đồng sẽ thanh toán sau khi làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Ngày 22/9/2022 chị H2 đã làm văn bản ủy quyền cho anh L1 và từ chối nhận di sản thừa kế; giao toàn quyền và phần thừa kế của chị H2 cho anh L1 nhận, quyết định.

Khi làm thủ tục chuyển nhượng thì chị T2 không đồng ý nên chị N phát sinh tranh chấp. Ông C, anh L1, chị H2 thống nhất theo yêu cầu của chị Nguyễn Thị N tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng.

Đối với yêu cầu phản tố của chị Mỹ T2:

+ Không đồng ý có hợp đồng chuyển nhượng giữa bà T1 với chị Mỹ T2 diện tích 10.000m². Vì lúc bà T1 còn sống có cho chị Mỹ T2 thuê. Khoảng năm 2017 chị Mỹ T2 cho anh G thuê lại.

+ Anh L2 đồng ý chia thừa kế theo quy định của pháp luật như chị T2 yêu cầu. Anh L2 yêu cầu lấy diện tích thực tế đo đạc là 33.940,2m² chia làm 2 phần bằng nhau cho ông C, bà T1 là 16.970m². Diện tích 16.970m² của bà T1 để lại thừa kế chia cho 04 phần gồm có ông C, chị Mỹ T2, chị L2, chị Mỹ H2 mỗi người được hưởng thừa kế diện tích là 4.242,5m². Phần của chị Mỹ T2 được hưởng diện tích là 4.242,5m² vẫn yêu cầu lấy từ giáp thửa số 7 của chi Mỹ Trinh đo lên.

- Ngày 22/11/2023, ông C chết. Trước khi về sống cùng bà T1 thì có vợ là bà Phạm Thị K1 và 04 người con là anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị D, chị Nguyễn Thị Bích H1, chị Nguyễn Thị Bích L.

Đối với việc chị Mỹ T2 trình bày Bà T1 bán đất lấy vàng để cất nhà thì anh L2 không đồng ý vì năm 2001 anh L2 có đến ấp C, xã A mua bán cá giống rất lợi nhuận; đến năm 2003 thì anh L2, ông C và bà T1 có mua phần đất của ông M; đến năm 2005 có mua phần đất tại ấp C, xã A, huyện T; đến năm 2006 thì anh L2 cất nhà cấp 4; năm 2008 thì anh L2 xây lên 01 tấm. Đó là số tiền anh L2, ông C và bà T1 do mua bán cá giống có lợi nhuận cao để có tiền cất nhà.

- Nếu phải chia thừa kế cho chị T2 thì số tiền chị N đã đưa cho ông C, anh L2 nhận dư thì cá nhân anh L2 đồng ý trả lại số tiền cho chị N.

- Bị đơn cũng như người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị T1 là chị Phan Thị Mỹ T2 trình bày:

Không đồng ý theo yêu cầu của chị Nguyễn Thị N vì: Việc thỏa thuận chuyển nhượng giữa chị N, ông C, anh L2, chị H1 thì chị T2 không biết và chị T2 cũng không nhận tiền. Đất chuyển nhượng là của bà Nguyễn Thị T1 (đã chết) để lại và do đây là tài sản riêng của bà T1 trước khi về sống với ông Nguyễn Văn C. Trong phần đất tranh chấp này lúc còn sống mẹ chị bà T1 đã bán cho chị diện tích 10.000m² nhưng chưa làm thủ tục sang tên, hiện tại phần đất đang tranh chấp do chị quản lý sử dụng. Đồng thời, trong phần đất tranh chấp này còn phần đất mà chị là diện thừa kế của bà T1.

- Chị Phan Thị Mỹ T2 yêu cầu:

+ Yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất giữa bà T1 với chị T2 diện tích 10.000m2, thuộc thửa số 6, tờ bản đồ số 10, đất tọa lạc xã T.

+ Chia thừa kế quyền sử dụng đất còn lại của bà T1 với thửa đất thuộc thửa số 6, tờ bản đồ số 10, diện tích 23.940,2m², đất tọa lạc tại xã T theo quy định pháp luật chia làm 03 phần bằng nhau cho anh L2, chị T2, chị Mỹ H2 mỗi người sẽ được hưởng một phần diện tích là 7.980,06m². Nên chị T2 sẽ được hưởng phần diện tích là 7.980,06m².

+ Đối với việc anh L2 cung cấp thông tin 04 người con của ông C và vợ của ông C gồm: anh H, chị D, chị L, chị H2 thì không có ý kiến. Tuy nhiên trước đây ông C có vợ và sống với ông C từ năm 1973 và có 04 người con và sống trước thời điểm ngày 03/01/1987 là hôn nhân thực tế. Nên yêu cầu Tòa án đưa vợ của ông C vào tham gia tố tụng. Còn bà T1 chỉ là người sống với C từ năm 1991 trở về sau nên bà T1 và ông C không phải là vợ chồng.

+ Đối với việc cung cấp thêm các tài liệu, chứng cứ thì chị T2 không cung cấp gì thêm.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn G trình bày:

Anh G thuê đất của chị T2, chưa hết hạn hợp đồng và anh G đang canh tác trên phần đất này. Anh G thống nhất nếu Tòa án giải quyết đất thuộc về ai thì anh G sẽ tự thương lượng với người được giao đất.

- Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Nguyễn Văn C là chị Nguyễn Thị Bích H1, anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị Bích L, chị Nguyễn Thị D trình bày:

Ngày 13/12/2023, Tòa án T3 nhận được văn bản Đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt của chị L, chị D, chị H1 và anh H. Ngoài ra đối với phần đất tranh chấp thuộc thửa đất số 6, tờ bản đồ số 10, đất tọa lạc tại xã T thì chị L, chị D, chị H1 và anh H thống nhất ý kiến khi còn sống cha của các anh chị là ông C đã thống nhất chuyển nhượng cho chị Nguyễn Thị N, đã nhận đủ tiền chuyển nhượng. Do đó, các anh chị từ chối nhận phần di sản do ông C để lại và đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển quyền sang tên cho chị N theo thỏa thuận chuyển nhượng trước đây.

Tai phiên tòa xác điịnh về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nay chị N đang quản lý. Các đương sự thống nhất giá đất tranh chấp là 53.000 đồng/m². Ngoài ra các đương sự đều khẳng định không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì thêm; không yêu cầu Hội đồng xét xử thu thập thêm chứng cứ gì khác.

Luật sư O trình bày: Ông C, bà T1 là hôn nhân thực tế từ năm 1991 nên không phải là vợ chồng hợp pháp được pháp luật công nhận. Đất tranh chấp ghi cấp giấy chứng nhận là cấp cho cá nhân bà T1. Không có chứng cứ chứng minh phần đất tranh chấp là chung vợ chồng hay là một phần. Ông M người chuyển nhượng đất xác nhận chuyển nhượng đất cho cá nhân bà T1. Về hợp đồng chuyển nhượng đất giữa bà T1 với chị T2 tuy không có hợp đồng nhưng đã giao đất, giao vàng có người làm chứng là dì, em anh L2, chị T2 không có mâu thuẫn xác nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận hợp đồng chuyển nhượng đất giữa bà T1 với chị T2. Phần đất còn lại chia thừa kế làm 3 phần cho các con bà T1 là anh L2, chị T2, chị H1.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng thủ tục tố tụng; phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án đề nghị:

+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N.

Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đất xác lập ngày 25/8/2022 đối với diện tích 28.283,2m² thuộc thửa đất số 06, tờ bản đồ số 10, đất tọa tại ấp B, xã T, huyện T giữa chị Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn C, anh Phan Chí L1.

Buộc anh Phan Chí L1 có trách nhiệm trả chị Nguyễn Thị N số tiền 210.955.900 đồng.

+ Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn chị Phan Thị Mỹ T2.

Chị Phan Thị Mỹ T2 được hưởng thừa kế diện tích đất 5.656,6m².

+ Không chấp nhận yêu cầu của chị Phan Thị Mỹ T2 về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị T1 và chị Phan Thị Mỹ T2 đối với diện tích đất 10.000m².

Chị T2, anh L1, anh G có trách nhiệm giao chị N diện tích đất 28.283,2m² thuộc thửa đất số 06, tờ bản đồ số 10, đất tọa tại ấp B, xã T, huyện T.

Các đương sự được đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thành phần những người tham gia tố tụng các đương sự thống nhất không có ai khiếu nại hay yêu cầu bổ sung vấn đề gì thêm.

[2] Về thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện các nguyên đơn kiện yêu cầu thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Bị đơn yêu cầu thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất và chia thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản của bà T1 để lại. Đất tranh chấp đang cho thuê. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ tranh chấp yêu cầu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và chia thừa kế; hợp đồng thuê quyền sử dụng đất.

Các đương sự khởi kiện yêu cầu tranh chấp đất thuộc thửa số 6, tờ bản đồ số 10, diện tích 34.161,9m², đất tọa lạc ấp B, xã T, huyện T được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 27/11/2013 do bà Nguyễn Thị T1 đứng tên. Bà T1 chết ngày 02/4/2022.

Do chị H1 là đang sinh sống tại Đài Loan (Trung Quốc) do đó vụ án được Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền quy định tại Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa sơ thẩm có mặt chị N, anh L1, chị T2, Luật sư O. Người làm chứng bà Trần Thị Đ, bà Trần Thị Út E, chị Trần Thị Mỹ N1. Tại phiên tòa ngày tuyên án có mặt chị N, anh L1; vắng mặt chị T2, Luật sư O.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt anh Nguyễn Văn G; chị Nguyễn Thị Bích H1, anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị Bích L, chị Nguyễn Thị D có đơn xin vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử theo quy định.

[3] Về nội dung tranh chấp:

Các đương sự thống nhất với nhau ông Phan Văn M1 (chết năm 1981) và bà Nguyễn Thị T1 sống chung với nhau có 3 người con anh Phan Chí L1, chị Phan Thị Mỹ T2, chị Phan Thị Mỹ H2.

Ông Nguyễn Văn C sống chung với bà T1 từ năm 1991, không có đăng ký kết hôn và không có con chung. Năm 2003 ông C, bà T1 chuyển nhượng đất của ông Mai Văn M. Đất bà Nguyễn Thị T1 được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 27/11/2013. Đất giao cho chị T2 sử dụng. Bà T1 chết ngày 02/4/2022.

Ngày 25/8/2022, chị N và ông C, anh L1 có thỏa thuận về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thửa số 6, tờ bản đồ số 10, diện tích 34.161,9m², với số tiền chuyển nhượng là 1.800.000.000 đồng. Chị N đã thanh toán cho ông C, anh L1 số tiền 1.700.000.000 đồng. Số tiền còn lại là 100.000.000 đồng sẽ thanh toán sau khi làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Ngày 22/9/2022 chị H2 đã làm văn bản ủy quyền cho anh L1 và từ chối nhận di sản thừa kế; giao toàn quyền và phần thừa kế của chị H2 cho anh L1 nhận, quyết định.

Khi làm thủ tục chuyển nhượng thì chị T2 không đồng ý nên chị N phát sinh tranh chấp. Ông C, anh L1, chị H2 thống nhất theo yêu cầu của chị N tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng.

Trong quá trình giải quyết vụ án đến ngày 22/11/2023, ông C chết. Trước khi về sống cùng bà T1 thì có vợ là bà Phạm Thị K1 và 04 người con là anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị D, chị Nguyễn Thị Bích H1, chị Nguyễn Thị Bích L nên Tòa án đã đưa vào tham gia tố tụng. Chị L, chị D, chị H1 và anh H thống nhất trình bày ý kiến khi còn sống cha của các anh chị là ông C đã thống nhất chuyển nhượng cho chị N, đã nhận đủ tiền chuyển nhượng. Các anh chị từ chối nhận phần di sản do ông C để lại và đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển quyền sang tên cho chị N theo thỏa thuận chuyển nhượng trước đây. Do đó công nhận ý kiến này; về quyền sử dụng đất công nhận cho ông C sẽ được tiếp tục chuyển nhượng cho chị N theo quy định pháp luật.

Xét yêu cầu chị N đề nghị giữ nguyên theo hợp đồng chuyển nhượng của ông C, anh L1, chị H1 với chị N. Chị N muốn nhận hết phần đất theo hợp đồng chuyển nhượng, nếu phải chia thừa kế cho chị T2 thì số tiền chị đã đưa cho ông C, anh L1 nhận dư thì yêu cầu cá nhân anh L1 trả lại số tiền cho chị N. Do các đương sự thống nhất hợp đồng với chị N nên yêu cầu chị N được chấp nhận về việc tiếp tục thực hiện hợp đồng sau khi xem xét chia thừa kế và yêu cầu hợp đồng chuyển nhượng của chị T2.

Xét yêu cầu xác định đất chia thừa kế để thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất cho chị N của anh L1 và yêu cầu phản tố của chị T2:

Diện tích đất 34.161,9m² (đo đạc thực tế diện tích 33.940,2m²), được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị T1 ngày 27/11/2013. Xét thấy, ông C và bà T1 về sống chung vào năm 1991 (không đăng ký kết hôn), diện tích đất được tạo lập trong thời kỳ ông C và bà T1 sống chung; ông C và bà T1 sinh sống và làm ăn chung (mua bán cá giống). Vì vậy diện tích đất 33.940,2m² là tài sản chung của ông C và bà T1 nên ông C và bà T1 mỗi người được hưởng một nửa cụ thể: ông C và bà T1 mỗi người được hưởng diện tích đất 16.970,1m². Ông C đã chuyển nhượng phần đất của mình cho chị N.

Bà T1 chết ngày 02/4/2022 nên còn thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản thừa kế. Vì vậy, di sản của bà T1 để lại được chia thừa kế theo pháp luật theo quy định tại Điều 650 Bộ luật dân sự.

Di sản bà T1 để lại là diện tích đất 16.970,1m². Chị T2 (con bà T1) cho rằng năm 2008 bà T1 có thỏa thuận chuyển nhượng cho chị T2 10.000m² với giá 10 cây vàng 24k. Anh L2 không đồng ý có việc bà T1 chuyển nhượng đất cho chị T2 như chị T2 trình bày; anh L2 xác định anh nghe bà T1 nói cho chị T2 mướn đất để phụ cấp thêm tiền cho bà T1. Chị T2 trình bày do khi chị có chồng không được cho tài sản ra riêng nên khi mua được đất bà T1 giao đất cho chị làm để bù đắp; đồng thời chị xuất tiền thêm để là đám cúng ông bà, phụ tiền cho bà T1 sinh hoạt đời sống. Việc chuyển nhượng đất chị T2 không cung cấp được chứng cứ chứng minh, những người làm chứng bà Trần Thị Đ, bà Trần Thị Út E, chị Trần Thị Mỹ N1 do chị T2 cung cấp cũng chỉ nghe kể lại, không chứng kiến cụ thể về hợp đồng chuyển nhượng đất giữa bà T1 và chị T2. Lời trình bày của chị T2, người làm chứng không được anh L2 thừa nhận nên yêu cầu phản tố của chị T2 về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất giữa bà T1 với chị T2 diện tích 10.000m², thuộc thửa số 6, tờ bản đồ số 10, đất tọa lạc xã T, huyện T là không có căn cứ chấp nhận.

Đồng thời căn cứ Điều 651 BLDS hàng thừa kế thứ nhất của bà T1 gồm các con anh Phan Chí L1, chị Phan Thị Mỹ T2, chị Phan Thị Mỹ H2. Đối với ông C sống chung với bà T1 từ năm 1991 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên không được công nhận là vợ chồng nên ông C không được hưởng thừa kế đối với di sản của bà T1 để lại. Vì vậy, di sản của bà T1 để lại là diện tích đất 16.970,1m² được chia làm 03 phần, cho 03 người con anh L1, chịu T2, chị H2 thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà T1, kỷ phần mỗi người được hưởng là diện tích đất 5.656,6m².

Đối với phần của ông C được chia từ tài sản chung giữa ông C và bà T1 là diện tích đất 16.970,1m²; kỷ phần anh L1, chị H2 được hưởng (chi H2 giao phần đất chị hưởng cho anh L1) từ di sản của bà T1 là diện tích đất 11.313,2m² với tổng diện tích đất 28.283,2m², các đương sự thống nhất tiếp tục thực hiện theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông C, anh L1 và chị N xác lập vào ngày 25/8/2022 nên ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự. Phần chị T2 được hưởng là 5.656,6m². Do đất không đều nên diện tích đất có sự chênh lệch nhỏ các đương sự thống nhất không yêu cầu xem xét diện tích đất chênh lệch này. Đồng thời đất tranh chấp giáp với đất của chị T2 nên công nhận diện tích đất tranh chấp giáp ranh cho chị T2 được hưởng để các đương sự thuận tiện trong việc canh tác đất.

Về vị trí các đương sự được phân chia hưởng như sau:

- Chị T2 diện tích 5.656,6m² có vị trí các mốc 7, 3, 4, 5, 6 trở về mốc 7.

- Ông C là 16.970,1m² có vị trí các mốc 10, 11, 12, 13,14 ,15, 16, 17, 1, 9 trở về mốc 10.

- Anh L2 được chia 11.313,6m² vị trí đất (gồm phần anh L2, chị H2 được hưởng thừa kế) từ các mốc 9, 1, 2, 3, 7, 8 trở về 9.

Như vậy phần ông C, anh L2 chuyển nhượng cho chị N bao gồm 16.970,1m² + 11.313,6m² = 28.283,7m² vị trí các mốc 1, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 1, 2, 3, 7, 8, 9 trở về mốc 10.

Phần diện tích đất ông C, anh L2 chuyển nhượng cho chị N còn thiếu so với HĐCN QSDĐ giữa các bên thì chị N. Theo giá chị N nhận chuyển nhượng đất, cụ thể 1.800.000.000 đồng / 34.161,9m² = 52.690 đồng/m². Số tiền chị N đưa 1.700.000.000 đồng tương đương diện tích 32.264m². Diện tích chị N được nhận còn thiếu là 32.264m² - 28.283,7m² = 3.980,3m², anh L2 thống nhất anh L2 có trách nhiệm trả lại giá trị đất cho chị N giá đất theo thỏa thuận các đương sự là 53.000 đồng/m² (3.980,3m² x 53.000 đồng) = 210.955.900 đồng.

Vì vậy, sau khi cấn trừ số tiền chuyển nhượng đất còn thiếu giữa các bên thì buộc anh L2 có trách nhiệm trả lại chị N số tiền là 210.955.900 đồng, nên ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự.

[4] Đối với hợp đồng thuê đất và số tiền cho thuê đất giữa anh G và chị T2 thì các đương sự thống nhất không tranh chấp trong vụ án này nên không đặt ra xem xét giải quyết. Do đất anh G đang thuê từ chị T2 canh tác; chị T2, anh G thừa nhận đất tranh chấp không thay đổi hiện trạng, vị trí đất. Do đất anh G đang sử dụng nên buộc anh G có trách nhiệm liên đới cùng chị T2 giao đất cho chị N sử dụng.

Đối với chị Nguyễn Thị Bích H1, anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị Bích L, chị Nguyễn Thị D không có yêu cầu tranh chấp nên không xem xét giải quyết.

[5] Từ những phân tích nêu trên, Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.

[6] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Tiền chi phí xem xét, thẩm định là 5.759.820 đồng (lấy chẵn 5.760.000 đồng) + 3.400.000 đồng, tổng cộng 9.160.000 đồng. Chị N đã nộp và chi xong. Do yêu cầu của chị N được chấp nhận nên không phải chịu án phí tố tụng. Do yêu cầu chia thừa kế anh L2, chị T2 được chấp nhận nên phải chịu và được chia theo kỷ phần được hưởng. Chị T2 phải chịu 3.053.300 đồng; anh L2 phải chịu là 6.106.700 đồng. Chị T2, anh L2 có trách nhiệm trả cho chị N số tiền này.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Do yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của chị N được chấp nhận nên chị N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

- Anh L2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và số tiền trả lại hợp đồng chuyển nhượng cho chị N.

- Yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của chị T2 không được chấp nhận và yêu cầu chia thừa kế của chị T2 được chấp nhận nên chị T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 37, 157, 158, 165, 166, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 500, 502, 612, 620, 623, 649, 650, 651, 660 của Bộ luật dân sự 2015;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của chị Phan Thị Mỹ T2.
  3. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị Nguyễn Thị N với ông Nguyễn Văn C, Phan Chí L1 diện tích đất 28.283,7m² thuộc một phần thửa số 6, tờ bản đồ số 10, diện tích 34.161,9m²( đo đạc thực tế diện tích là 33.940,2m²), đất tọa lạc ấp B, xã T, huyện T được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 27/11/2013 cho bà Nguyễn Thị T1 đứng tên.
  4. Buộc anh Phan Chí L1, chị Phan Thị Mỹ T2, anh Nguyễn Văn G phải giao cho chị Nguyễn Thị N diện tích đất 28.283,7m² vị trí các mốc 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 1, 2, 3, 7, 8, 9 trở về mốc 10.

  5. Không chấp nhận yêu cầu chị Phan Thị Mỹ T2 về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị T1 với chị Phan Thị Mỹ T2 diện tích đất 10.000m².
  6. Chấp nhận một phần yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất của chị Phan Thị Mỹ T2:
  7. Chị Phan Thị Mỹ T2 được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất diện tích 5.656,6m² có vị trí các mốc 7, 3, 4, 5, 6 trở về mốc 7.

  8. Buộc anh Phan Chí L1 phải trả số tiền chuyển nhượng đất cho chị Nguyễn Thị N là 210.955.900 đồng.
  9. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    (Kèm theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 28/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp và Sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T ngày 17/4/2024).

    * Đề nghị Ủy ban nhân dân huyện T thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa số 6, tờ bản đồ số 10, diện tích 34.161,9m², đất tọa lạc ấp B, xã T, huyện T được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 27/11/2013 cho bà Nguyễn Thị T1 đứng tên để cấp lại cho các đương sự.

    Các bên đương sự có quyền và nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để điều chỉnh và đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

  10. Về chi phí tố tụng dân sự sơ thẩm:
  11. - Chi phí đo đạc và định giá: Chị N đã nộp và chi xong tổng cộng 9.160.000 đồng. Buộc chị T2 phải chịu 3.053.300 đồng; anh L1 phải chịu là 6.106.700 đồng và chị T2, anh L1 có trách nhiệm trả cho chị N số tiền này.

  12. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  13. - Chị Nguyễn Thị N không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Chị N được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0014094 ngày 07/12/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.

    - Chị Phan Thị Mỹ T2 phải chịu 300.000 đồng án phí không giá ngạch và án phí dân sự sơ thẩm là 14.990.000 đồng. Tổng cộng là 15.290.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.850.000 đồng + 2.268.000 đồng theo các biên lai thu số 0014212 ngày 01/8/2023 và 0003329 ngày 19/10/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp. Chị T2 còn phải nộp thêm 5.172.000 đồng.

    - Anh Phan Chí L1 phải chịu 300.000 đồng án phí không giá ngạch và 10.549.800 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Tổng cộng là 10.849.800 đồng. Nhưng do anh L1 hoàn cảnh gặp sự kiện không có khả năng để nộp án phí được xác nhận Ủy ban nhân dân xã A. Do đó được giảm 50% mức án phí. Anh L2 còn phải nộp số tiền án phí là 5.424.900 đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa khi tuyên án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Cục THADS tỉnh Đồng Tháp;
  • - TANDCC tại TP. HCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Chí Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/DS-PT ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chia thừa kế quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê đất

  • Số bản án: 11/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chia thừa kế quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ: Nguyễn Thị Nhung BĐ: Nguyễn Văn Căn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger