Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ THIỆN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 11-09-2024

V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ksor Juh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Rmah Et
  2. Ông Rmah Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Diệu Linh – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 09 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 65/2024/TLST-HNGĐ, ngày 27 tháng 06 năm 2024, về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 08 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2024/QÐST- HNGĐ ngày 26 tháng 08 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1977; Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai.
  2. Bị đơn: Anh Đỗ Hồng H, sinh năm 1976; Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn trình bày:

Tôi và anh Đỗ Hồng H tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 11/12/2000 tại UBND thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai. Trong quá trình chung sống, chúng tôi nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách vợ chồng không hòa hợp, bất đồng về quan điểm sống, cách suy nghĩ. Mặc dù chúng tôi đều đã cố gắng tự giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả, đời sống hôn nhân không những không được cải thiện mà càng ngày càng mâu thuẫn làm cho cả hai cảm thấy ngột ngạt, không có hạnh phúc. Chúng tôi sống ly thân cũng đã 4-5 năm. Sau khi chúng tôi ly thân thì anh H bỏ đi, không quan tâm đến gia đình con cái, nay tôi cảm thấy mâu thuẫn hôn nhân đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị B yêu cầu được ly hôn với anh Đỗ Hồng H.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị B và anh Đỗ Hồng H có 03 con chung là Đỗ Thị Ngọc A, sinh ngày 16 tháng 11 năm 2017; Đỗ Tuấn L, sinh năm 2001; Đỗ Quốc D, sinh năm 2004. Cháu L và cháu D đã thành niên, sống tự lập nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Còn cháu A, chị Nguyễn Thị B đề nghị giao con cho chị B nuôi dưỡng, chăm sóc.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Chị Nguyễn Thị B không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng anh Đỗ Hồng H vẫn không đến Tòa án làm việc và không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện cũng như các tài liệu, chứng cứ kèm theo. Tại phiên tòa, anh H cũng vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 28, 35 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Giải quyết cho chị Nguyễn Thị B được ly hôn với anh Đỗ Hồng H.

Về con chung: Giao 01 con chung là Đỗ Thị Ngọc A, sinh ngày 16 tháng 11 năm 2017 cho chị Nguyễn Thị B nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị B phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Chị Nguyễn Thị B khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn, nuôi con khi ly hôn. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Tòa án đã tiến hành xác minh anh Đỗ Hồng H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ A, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai theo quy định tại điểm a khoản 1 ĐIều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

Tòa án đã tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án theo đúng quy định của pháp luật nhưng anh H vẫn không đến Tòa án nộp văn bản ý kiến của mình. Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị B và anh Đỗ Hồng H tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 11/12/2000 tại UBND thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai, đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định Luật hôn nhân và gia đình, được pháp luật công nhận.

Trong quá trình chung sống với nhau, giữa anh chị xảy ra mâu thuẫn gay gắt do bất đồng về quan điểm sống và anh H đã bỏ đi khỏi địa phương không quan tâm đến vợ con. Đến nay, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị B xin được ly hôn với anh Đỗ Hồng H.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị B và anh Đỗ Hồng H có 03 con chung là Đỗ Thị Ngọc A, sinh ngày 16 tháng 11 năm 2017; Đỗ Tuấn L, sinh năm 2001; Đỗ Quốc D, sinh năm 2004. Cháu L và cháu D đã thành niên, sống tự lập nên đương sự không đề nghị Tòa án giải quyết. Còn cháu A, chị Nguyễn Thị B đề nghị giao con cho chị B nuôi dưỡng, chăm sóc. Xét nguyện vọng của con chung và yêu cầu được nuôi dưỡng con chung của chị Nguyễn Thị B là có căn cứ nên chấp nhận. Do đó, giao con chung cho chị Nguyễn Thị B trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét do đương sự không yêu cầu.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 170; khoản 2 Điều 227; Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 51; Điều 53; Điều 54; Điều 56; Điều 57; Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị B.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị B được ly hôn với anh Đỗ Hồng H.

    Về con chung: Giao 01 con chung là Đỗ Thị Ngọc A, sinh ngày 16 tháng 11 năm 2017 cho chị Nguyễn Thị B trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục kể từ ngày tuyên án hôm nay (11/09/2024) cho đến khi con thành niên và tự lập được hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và tài sản để tự nuôi mình.

    Vì lợi ích của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và áp dụng việc cấp dưỡng nuôi con chung, anh Nguyễn Văn P có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở thực hiện quyền này.

    Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị B phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009003 ngày 27 tháng 06 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai. Chị Nguyễn Thị B đã nộp đủ.
  1. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND H. Phú Thiện;
  • - Chi cục THADS (khi án có hiệu lực);
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai;
  • - UBND thị trấn Phú Thiện;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Ksor Juh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/HNGĐ-ST ngày 11/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN, TỈNH GIA LAI về tranh chấp về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 11/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger