|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN Bản án số: 11/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10 - 5 - 2024 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Phương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Anh Đại
Bà Nguyễn Thị Loan
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Ngọc Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 200/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2023, về việc Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 26 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bảo Y, sinh năm 1991; địa chỉ: số xx đường N, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; Có mặt;
- Bị đơn: Anh Vũ Huy H, sinh năm 1984; địa chỉ: số xx, đường N, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Hoàng Bảo L, sinh năm 1989; địa chỉ: Số xx đường L, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
- Dương Thị N, sinh năm 1989; địa chỉ: Số xx đường T, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
- Hà Hoài Y, sinh năm 1992; địa chỉ: Số xx đường T, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; văng mặt.
- Bà Nguyễn Thị C; địa chỉ: Số xx đường N, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
- Bà Trương Thị T; đại chỉ: Số xx đường N, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
- Bà Lương Thị H; địa chỉ: Số xx đường N, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 10 tháng 10 năm 2022, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:
Chị Nguyễn Thị Bảo Y và anh Vũ Huy H tự do tìm hiểu tự nguyện đến với nhau, được gia đình 2 bên tổ chức hôn lễ theo nghi thức cổ truyền vào năm 2008. Ngày 16/6/2008, vợ chồng chị đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại địa chỉ số xx (nay là số xx) đường N, phường T, thành phố L, được hơn 10 năm thì vợ chồng chị chuyển về địa chỉ xx đường N, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
Khoảng 2 năm đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc, sau đó liên tiếp nảy sinh mâu thuẫn từ nhỏ đến lớn, nguyên nhân chủ yếu là do anh Vũ Huy H thường xuyên uống rượu say, đập phá đồ đạc trong gia đình, thậm chí anh Vũ Huy H còn ra tay đánh chị. Sau khi sự việc xảy ra, vì nghĩ đến các con còn nhỏ, cảm thấy anh Vũ Huy H có thể thay đổi được nên chị đã tha thứ vợ chồng lại bình thường. Nhưng chỉ được vài ngày anh Vũ Huy H lại tiếp tục say xỉn, mỗi lần say vẫn đập phá đồ đạc chửi bới xúc phạm chị. Bố mẹ hai bên cũng khuyên bảo nhiều lần nhưng anh Vũ Huy H không thay đổi, tháng 2/2023 chị Nguyễn Thị Bảo Y đã nộp đơn đến Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Huy H. Sau khi nộp đơn đến Tòa, vì nghĩ thương con rút đơn về, nhưng anh Vũ Huy H lại tiếp tục có quan hệ ngoài luồng với người phụ nữ khác, anh Vũ Huy H công khai đưa đón người này, giới thiệu với bạn bè thân thiết đó là người yêu của anh Hoàng. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được, anh Vũ Huy H không có thiện chí đoàn tụ nên chị và anh Vũ Huy H đã sống ly thân từ thời gian đó, trong thời gian ly thân không ai còn quan tâm đến cuộc sống của nhau.
Tháng 03 năm 2023 âm lịch, chị Nguyễn Thị Bảo Y chuyển ra ngoài ở trọ không ở cùng nhà với anh Vũ Huy H, hiện nay chị và anh Vũ Huy H đã không còn nói chuyện với nhau, bản thân chị cũng chặn số anh Vũ Huy H do anh Vũ Huy H hay say rượu nhắn tin làm phiền chị. Anh Vũ Huy H không đồng ý ly hôn với lý do còn rất yêu chị, chị thấy không chấp nhận ý kiến này, vì thời gian chị bỏ đi không ai hỏi han đến, hơn nữa anh Vũ Huy H còn có quan hệ với người khác thì không thể rất yêu chị được. Chị Nguyễn Thị Bảo Y xác định tình cảm không còn đề nghị được ly hôn với anh Vũ Huy H.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Bảo Y và anh Vũ Huy H có hai con chung là cháu Vũ Bảo N, sinh ngày 08/01/2010 và cháu Vũ Bảo T, sinh ngày 07/11/2013, khi ly hôn chị Nguyễn Thị Bảo Y yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả 02 con chung cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh Vũ Huy H có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh Vũ Huy H có ý kiến muốn nuôi hai con chung thì chị cũng đồng ý, để anh Vũ Huy H nuôi con chung cho đến khi con trưởng thành, chị đồng ý trợ cấp nuôi hai con mỗi tháng 3 triệu đồng đối với hai con, tức mỗi người con chị cấp dưỡng 1.500.000đồng.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết;
Về nợ chung: Không có.
Theo bản khai của bị đơn anh Vũ Huy H trình bày:
Về việc kết hôn và quá trình chung sống vợ chồng đúng như chị Nguyễn Thị Bảo Y trình bày. Tuy nhiên, anh Vũ Huy H cho rằng từ tháng 4 năm 2023 chị Nguyễn Thị Bảo Y bỏ nhà đi, đi đâu anh không biết, lý do chị Nguyễn Thị Bảo Y bỏ đi là giận dỗi anh. Tết năm 2024 chị Nguyễn Thị Bảo Y vẫn về nhưng được một lúc chị Nguyễn Thị Bảo Y lại đi. Về tình cảm vợ chồng, anh Vũ Huy H không đồng ý ly hôn vì còn yêu chị Nguyễn Thị Bảo Y, anh cũng không muốn các con sống thiếu bố, mẹ.
Về con chung: Anh Vũ Huy H thừa nhận có hai con chung như chị Nguyễn Thị Bảo Y trình bày, anh đề nghị trường hợp phải ly hôn thì anh được nuôi hai con chung cho đến khi các con trưởng thành, anh Vũ Huy H yêu cầu chị Nguyễn Thị Bảo Y phải trợ cấp nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000đồng cho hai con đến khi hai con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết;
Về nợ chung: không có.
Theo lời khai của những người làm chứng:
Bà Lương Thị H, bà Nguyễn Thị C đều trình bày: Các bà Lương Thị H, bà Nguyễn Thị C đều là hàng xóm với anh Vũ Huy H và chị Nguyễn Thị Bảo Y, bà Lương Thị H, bà Nguyễn Thị C thấy khoảng một năm nay chị Nguyễn Thị Bảo Y không ở nhà, vợ chồng mâu thuẫn hay không các bà đều không biết, đề nghị Toà án giải quyết xét xử vụ án vắng mặt các bà.
Bà Trương Thị T trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh Vũ Huy H, mâu thuẫn của các con bà không biết rõ chỉ thấy chị Nguyễn Thị Bảo Y có phàn nàn anh Vũ Huy H say rượu, mải chơi nhưng bà thấy đó là mâu thuẫn không lớn, trầm trọng dẫn đến phải ly hôn, mong Toà tạo điều kiện cho các con hoà giải đoàn tụ với nhau. Chị Nguyễn Thị Bảo Y trong gia đình có trách nhiệm, chu toàn chăm lo giỗ chạp trong nhà. Bà đề nghị Toà án giải quyết xét xử vắng mặt bà.
Chị Dương Thị N trình bày: Chị là bạn thân của chị Nguyễn Thị Bảo Y và anh Vũ Huy H được khoảng 7 - 8 năm nay, từ trước đến nay chị không có mâu thuẫn gì với chị Nguyễn Thị Bảo Y và anh Vũ Huy H. Trước đây anh Vũ Huy H là người hiền lành, công việc của anh Vũ Huy H là làm khoan cắt bê tông, tuy nhiên thấy chị Nguyễn Thị Bảo Y kể lại, tuy anh Vũ Huy H làm công trình nhưng không mang tiền về đưa cho vợ để chi tiêu trong gia đình mà anh Vũ Huy H ăn tiêu cho bản thân hết. Khoảng 3 năm gần đây, anh Vũ Huy H không có việc làm nên thường xuyên uống rượu say xỉn. Do các con chị và chị Nguyễn Thị Bảo Y học cùng nhau nên thỉnh thoảng ăn uống và ngủ lại qua đêm nhà chị Nguyễn Thị Bảo Y, chị được chứng kiến việc anh Vũ Huy H đi chơi đêm về rất muộn, khoảng 2 - 3 giờ sáng, khi anh Vũ Huy H say rượu thì thường trở thành con người khác, hay gây sự chửi mắng chị Nguyễn Thị Bảo Y. Cách đây khoảng 2 -3 năm, chị nhận được điện thoại chị Nguyễn Thị Bảo Y bảo chị đến bệnh viện đa khoa tỉnh, lên đến nơi chị thấy chị Nguyễn Thị Bảo Y bị thương ở tay phải khâu 4 - 5 mũi, chị Nguyễn Thị Bảo Y nói vết thương do 2 vợ chồng đánh nhau. Chị Dương Thị N đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt chị.
Chị Hoàng Bảo L trình bày: Chị là bạn thân của chị Nguyễn Thị Bảo Y khoảng 6 - 7 năm nay, từ trước đến nay chị không có mâu thuẫn gì với chị chị Nguyễn Thị Bảo Y và anh Vũ Huy H. Chị được nhiều lần chứng kiến việc anh Vũ Huy H và chị Nguyễn Thị Bảo Y cãi mắng nhau, nguyên nhân chủ yếu là do anh Vũ Huy H say rượu gây sự vô cớ nên 2 vợ chồng cãi nhau. Chị được nghe chị Nguyễn Thị Bảo Y kể lại, nhiều lần chị Nguyễn Thị Bảo Y bị anh Vũ Huy H đánh do anh Vũ Huy H say rượu, có nhiều đêm anh Vũ Huy H đi chơi đến gần sáng hôm sau chị Nguyễn Thị Bảo Y đi còn nhờ chị đến nấu cơm cho các con ăn, khi chị đến anh Vũ Huy H tiếp tục đi chơi không ở nhà. Chị Hoàng Bảo L đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt chị.
Chị Hà Hoài Y trình bày: Chị bạn thân của chị Nguyễn Thị Bảo Y khoảng 10 năm nay, chị nhiều lần chứng kiến việc anh Vũ Huy H và chị Nguyễn Thị Bảo Y cãi nhau, khoảng 3 năm gần đây, anh Vũ Huy H không có việc làm nên thường xuyên uống rượu say xỉn, mỗi lần say rượu anh Vũ Huy H như trở thành một người khác, gây sự chửi bới vô cớ. Những lần chị ngủ lại nhà chị Nguyễn Thị Bảo Y chị được chứng kiến tận mắt việc anh Vũ Huy H và chị Nguyễn Thị Bảo Y cãi chửi nhau, thỉnh thoảng anh Vũ Huy H đi chơi đến khoảng 2 -3 giờ sáng. Chị Hà Hoài Y đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt chị.
Tại Biên bản xác minh với đại diện nơi cư trú của các đương sự, bà Nguyễn Thị Thửu trình bày: Bà là tổ trưởng tổ dân phố số 07, khối 6 phường Tam Thanh 10 năm nay. Quá trình sinh sống bà chưa thấy vợ chồng chị Nguyễn Thị Bảo Y và anh Vũ Huy H mâu thuẫn phải để địa phương can thiệp hoà giải.
Tại phiên toà, nguyên đơn Nguyễn Thị Bảo Y giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Huy H, do tình cảm vợ chồng không còn. Về con chung, chị đề nghị anh Vũ Huy H là người nuôi hai con chung theo đề nghị của anh Hoàng, chị đồng ý cấp dưỡng cho mỗi con là 1.500.000đồng/tháng cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Về tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết; Về nợ chung, không có.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các trình tự thủ tục tố tụng, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các đương sự khi tham gia tố tụng. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Hôn nhân của chị Nguyễn Thị Bảo Y và anh Vũ Huy H là hợp pháp, năm 2023 anh chị phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh Vũ Huy H không có việc làm ổn định thường đi về muộn và có lần vợ chồng xảy ra xô sát, từ tháng 2 năm 2023 anh chị đã sống ly thân. Xét thấy, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, cùng nhau xây dựng gia đình đầm ấm hạnh phúc để nuôi dạy con cái trưởng thành, tuy nhiên, chị Nguyễn Thị Bảo Y và anh Vũ Huy H không còn tiếng nói chung, kéo dài cuộc hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc cho hai bên mục đích hôn nhân không đạt được. Về con chung, cháu Vũ Bảo N và Vũ Bảo T nhất trí nếu anh Hoàng nuôi dưỡng thì các cháu ở với bố. Về tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết; Về nợ chung, không có.
Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83, 107, 108, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 147, khoản 1 Điều 227, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Bảo Y với anh Vũ Huy H.
Về con chung: Giao cháu Vũ Bảo T và Vũ Bảo N cho anh Vũ Huy H nuôi dưỡng là phù hợp nguyện vọng các cháu. Chị Nguyễn Thị Bảo Y phải cấp dưỡng nuôi con chung là 3.000.000đồng và có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết; về nợ chung: Không có.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu phí ly hôn sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước theo quy định pháp luật.
Về kiến nghị khắc phục vi phạm: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa vắng mặt bị đơn anh Vũ Huy H và những người làm chứng, tuy nhiên Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn, người làm chứng, họ đã có lời khai trong quá trình giải quyết vụ án; hơn nữa, phiên tòa xét xử đã mở lần thứ hai. Vì vậy, Tòa án tiến hành tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt của bị đơn, người làm chứng theo quy định tại khoản 2 Điều 227, 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bảo Y và anh Vũ Huy H tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 25, quyển số 01 ngày 16/6/2008, do đó xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Bảo Y và anh Vũ Huy H là hợp pháp. Tuy nhiên, từ năm 2023 đến nay quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mẫu thuẫn, nguyên nhân là vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ngoài ra, còn một phần nguyên nhân là anh Vũ Huy H thường đi chơi về muộn, gây sự cãi nhau với chị Nguyễn Thị Bảo Y mỗi khi uống rượu, từ tháng 02 năm 2023 chị Nguyễn Thị Bảo Y và anh Vũ Huy H đã sống ly thân liên tục cho đến nay, thời gian ly thân chị Nguyễn Thị Bảo Y và anh Vũ Huy H không còn sự quan tâm, yêu thương nhau. Mặc dù anh Vũ Huy H không đồng ý ly hôn và cho rằng còn tình cảm với chị Nguyễn Thị Bảo Y, nhưng quá trình giải quyết vụ án anh Vũ Huy H đều không có mặt tại phiên họp, phiên hoà giải cho thấy anh Vũ Huy H không thực sự có thiện chí đoàn tụ vợ chồng, hơn nữa anh Vũ Huy H không đưa ra chứng cứ chứng minh tình cảm vợ chồng chưa đến mức trầm trọng.
- Xét thấy, lời khai của chị Nguyễn Thị Bảo Y phù hợp với lời khai của những người làm chứng, quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Bảo Y và anh Vũ Huy H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể kéo dài. Vì vậy, chị Nguyễn Thị Bảo Y yêu cầu được ly hôn anh Vũ Huy H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về con chung: chị Nguyễn Thị Bảo Y và anh Vũ Huy H có 02 con chung cháu Vũ Bảo N, sinh ngày 08/01/2010 và cháu Vũ Bảo T, sinh ngày 07/11/2013. Tại đơn khởi kiện, chị Nguyễn Thị Bảo Y đề nghị khi ly hôn chị là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả 02 con chung cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh Vũ Huy H có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị Bảo Y đã tự nguyện đồng ý để anh Vũ Huy H là người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng cho hai con chung, mỗi người con là 1.500.000đồng tháng cho đến khi hai con trưởng thành. Xét thấy, hiện nay hai con chung đang sinh sống cùng anh Vũ Huy H, anh Vũ Huy H có nguyện vọng được nuôi hai con chung, đề nghị này phù hợp với nguyện vọng của hai cháu Vũ Bảo N và Vũ Bảo T, chị Nguyễn Thị Bảo Y đồng ý và chấp nhận cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng như anh Vũ Huy H đề nghị, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận. Vì các đương sự không thoả thuận được thời điểm bắt đầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử sẽ quyết định thời điểm cấp dưỡng kể từ ngày tuyên án để đảm bảo quyền lợi ích của hai cháu Vũ Bảo N và Vũ Bảo T.
- Về tài sản chung, chị Nguyễn Thị Bảo Y và anh Vũ Huy H đều không yêu cầu giải quyết, về nợ chung, anh chị thừa nhận không có. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết tài sản chung, nợ chung vợ chồng.
- Xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các nhận định nêu trên và có căn cứ theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về án phí, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bảo Y phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung để nộp ngân sách nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn mà chị đã nộp, số tiền án phí còn thiếu chị Nguyễn Thị Bảo Y phải tiếp tục nộp theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Bảo Y có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Vũ Huy H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Bảo Y.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bảo Y được ly hôn với anh Vũ Huy H.
- Về con chung: chị Nguyễn Thị Bảo Y và anh Vũ Huy H có 02 con chung là cháu Vũ Bảo N, sinh ngày 08/01/2010 và cháu Vũ Bảo T, sinh ngày 07/11/2013.
Sau khi ly hôn, anh Vũ Huy H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả 02 con chung cho đến khi các con đủ 18 tuổi, chị Nguyễn Thị Bảo Y có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung đối với mỗi người con là 1.500.000đồng/tháng kể từ ngày tuyên án (10/5/2024) cho đến khi các con Vũ Bảo N, Vũ Bảo T đủ 18 tuổi.
Trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng chị Nguyễn Thị Bảo Y phải chịu lãi chậm trả theo quy định của Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự.
Chị Nguyễn Thị Bảo Y có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bảo Y phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con để nộp ngân sách Nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2023/0000148 ngày 19 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Chị Nguyễn Thị Bảo Y còn phải nộp tiếp số tiền án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Chu Thị Phương Thảo |
Bản án số 11/2024/HNGĐ-ST ngày 10/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 11/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Bảo Y - Nguyễn Huy H
