|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 11/01/2024.
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Hạnh
Bà Dương Thị Kim Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hồng Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:
Bà Phan Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 473/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 483/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1986.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Số nhà A V, khu B phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương; Nơi cư trú: Đường số B, nhà số B Khu công nghiệp B, Đ, Đ, Đài Loan
-
Bị đơn: Anh Hoàng Minh Đ, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Số nhà A V, khu B, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
Chị T, anh Đ đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai nguyên đơn chị Lê Thị T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hoàng Minh Đ tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương ngày 10/12/2008 và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn chị và anh Đ chung sống tại nhà bố mẹ chồng,
chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do tình tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau. Năm 2013, chị đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản đến năm 2016 thì về nước nhưng vợ chồng vẫn không thể hòa hợp được nên tháng 12 năm 2017 chị tiếp tục đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan từ đó đến nay. Chị xác định vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm, không ai còn quan tâm đến ai và tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đ để cả hai sớm ổn định cuộc sống riêng.
- Về con chung: Chị và anh Đ có 01 con chung là Hoàng Lê V, sinh ngày 14/7/2009 đang ở cùng anh Đ và bà nội. Khi ly hôn chị nhất trí để cho anh Đ tiếp tục nuôi dưỡng và tự nguyện cấp dưỡng 3.000.000 đồng/tháng đến khi con tròn 18 tuổi. Trường hợp cháu có nguyện vọng được ở cùng chị thì chị nhất trí và đề nghị Tòa án tạm giao cháu V cho bố mẹ đẻ chị là bà Hoàng Thị H nuôi dưỡng và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng.
- Về tài sản chung, vay nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị tự nguyện chịu toàn bộ án phí theo quy định pháp luật.
* Bị đơn anh Hoàng Minh Đ, trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Về thời điểm kết hôn, quá trình chung sống và mâu thuẫn vợ chồng như chị T trình bày. Chị T có đơn xin ly hôn, do vợ chồng xa cách nên không còn tình cảm, anh có quan điểm nhất trí ly hôn theo yêu cầu của chị T.
- Về con chung: Anh và chị T có 01 con chung là Hoàng Lê V, sinh ngày 14/7/2009 đang ở cùng anh và bà nội. Khi ly hôn chị T có quan điểm cho anh tiếp tục nuôi dưỡng và tự nguyện cấp dưỡng 3.000.000 đồng/tháng đến khi con tròn 18 tuổi, anh nhất trí.
- Về tài sản chung, vay nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa: Chị T và anh Đ có đơn xin xét xử vắng mặt và có quan điểm giữ nguyên ý kiến đã trình bày với Tòa án.
* Đại diện Viện sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình: Xử cho chị Lê Thị T được ly hôn anh Hoàng Minh Đ; Giao cho anh Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Hoàng Lê V, sinh ngày 14/7/2009 cho đến khi trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho anh Đ là 3.000.000
đồng/tháng; Về tài sản chung, vay nợ: Các đương sự không yêu cầu nên không phải giải quyết; Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Chị Lê Thị T có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết việc ly hôn giữa chị với anh Hoàng Minh Đ. Chị T đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan, anh Đ hiện đang sinh sống tại thành phố H. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Tại phiên tòa chị T, anh Đ có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị T, anh Đ.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị T và anh Hoàng Minh Đ tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương ngày 10/12/2008 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng bất điểm quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau. Chị T đi xuất khẩu lao động từ năm 2013 và vợ chồng sống ly thân không ai còn quan tâm đến ai. Đến nay, chị T và anh Đ đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn, anh Đ nhất trí. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị T anh Đ đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị T được ly hôn anh Đ là phù hợp.
[2.2]. Về quan hệ con chung: Anh Đ và chị T có 01 con chung là Hoàng Lê V, sinh ngày 14/7/2009 hiện nay đang ở cùng anh Đ. Khi ly hôn chị T có quan điểm cho anh Đ tiếp tục nuôi dưỡng và tự nguyện cấp dưỡng 3.000.000 đồng/tháng đến khi con chung tròn 18 tuổi, anh Đ nhất trí. Quan điểm của con chung là được tiếp tục ở với bố. Xét thấy sự thỏa thuận của anh Đ và chị T là phù hợp pháp luật nên cần chấp nhận đề nghị của anh Đ và chị T. Giao con chung cho anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và chấp nhận sự tự nguyện của chị T cấp dưỡng tiền nuôi con chung 3.000.000 đồng/tháng cùng anh Đ.
Chị Lê Thị T được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.3]. Về tài sản chung, vay nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Về án phí: Chị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng theo định của pháp luật.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân & Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị T được ly hôn anh Hoàng Minh Đ.
-
Về con chung: Giao cho anh Hoàng Minh Đ tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Hoàng Lê V, sinh ngày 14/7/2009 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi và chấp nhận sự tự nguyện của chị Lê Thị T cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh Đ là 3.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 01/2024 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.
Chị Lê Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Kể từ ngày anh Hoàng Minh Đ có đơn yêu cầu thi hành án về khoản tiền cấp dưỡng nuôi con chung, nếu chị Lê Thị T chậm thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán. Lãi suất phát sinh do chậm trả do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
-
Về án phí: Chị Lê Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0001288 ngày 27/10/2023 (bà H đã nộp đủ án phí ly hôn thay chị T) và phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng tiền nuôi con chung (chị T chưa
nộp).
-
Về quyền kháng cáo: Anh Đ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Chị T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mai Hoa |
Bản án số 11/2024/HNGĐ-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 11/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị T xin ly hôn Hoàng Minh Đ
