TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án: 11/2024/HNGĐ-ST Ngày: 11/01/2024 V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Chúc Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Hoàng Nghiệp;
- Ông Trương Văn Hằng
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thanh Trúc Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 315/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 539/2023/QĐXXST-HN ngày 20 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 605/2023/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Cù Văn Đ, sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ A, ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Bà Phan Thị T, sinh năm 1995; địa chỉ: Tổ A, ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.
Ông Đ vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bà T vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, ông Cù Văn Đ trình bày: Hôn nhân giữa ông và bà Phan Thị T là do mai mối, được hai bên gia đình đồng ý tổ chức lễ cưới vào năm 2013. Đến năm 2014, ông Đ và bà T đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện A, tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống gia đình, thường xuyên cãi vả, không tìm được tiếng nói chung. Sau đó, bà T tự ý về nhà mẹ ruột tại ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang, từ thời gian đó bà T không đến thăm con và chu cấp gì cho con. Từ năm 2018 thì ông và bà T đã ly thân nhau cho đến nay. Nhận thấy tình cảm của ông dành cho bà T không còn, đời sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà T. Việc ông ly hôn gia đình bà T cũng biết nhưng không có ý kiến gì.
Về con chung: Trong quá trình sống chung ông Đ và bà T có 01 con chung tên Cù Quốc T1, sinh ngày 03/3/2014; hiện con chung đang sinh sống cùng với ông Đ. Sau khi ly hôn, ông Đ yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung, không yêu cầu bà T cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà T không có mặt theo các văn bản triệu tập của Tòa nên không ghi nhận được ý kiến và bà T cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến. Tòa án thu thập chứng cứ để giải quyết vụ án theo quy định.
Biên bản lấy lời khai ngày 25/10/2023 người thân trong gia đình ông Đ cung cấp: Nguyên nhân mâu thuẫn giữa Đ - T là do Đ, T bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, không ai chị nhường nhịn nhau, kinh tế khó khăn hay cãi nhau chuyện tiền bạc. Đ và T ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Theo bà thì khả năng hàn gắn của Đ, T là không thể, bởi cả hai không có ý định hàn gắn; về con chung có 01 con chung sinh năm 2014 hiện do Đ nuôi dạy; tài sản chung, nợ chung thì bà không biết.
Thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư do Công an xã V cung cấp ngày 17/11/2023, bà Phan Thị T, sinh năm 1995, hiện nơi thường trú tại ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.
Tại phiên tòa, ông Đ vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Riêng bà T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi; thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ trong hồ sợ vụ án cho thấy hôn nhân của ông Đ, bà T có mâu thuẫn trầm trọng, trong thời gian ly thân cả hai không có giải pháp hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Trong quá trình sống chung ông Đ và bà T có 01 con chung tên Cù Quốc T1, sinh ngày 03/3/2014. Xét thấy cháu T1 đã sống quen với ông Đ và cháu cũng có nguyện vọng được sống cùng ông Đ, để đảm bảo điều kiện cho cháu phát triển và ổn định về tâm sinh lý được tốt đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu T1 cho ông Đ tiếp tục nuôi dạy. Công nhận sự tự nguyện của ông Đ về việc không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Cù Văn Đ yêu cầu được ly hôn với bà Phan Thị T. Bà T cư trú tại huyện A, tỉnh An Giang nên được Tòa án thụ lý giải quyết theo Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Đ vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bà T được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự trong quá trình tố tụng thể hiện: Quan hệ hôn nhân giữa ông Đ, bà T do gia đình mai mối, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V vào ngày 06/6/2014 nên làm phát sinh giá trị pháp lý theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét yêu cầu của ông Đ xin ly hôn với bà T. Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa ông Đ, bà T phát sinh từ lâu nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn nên mới sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã hòa giải đoàn tụ cho cả hai nhưng bà T không có mặt để hàn gắn tình cảm. Cho thấy, mâu thuẫn tình cảm giữa hai bên đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, điều này là phù hợp với lời trình bày của người thân trong gia đình ông Đ, nên yêu cầu ly hôn của ông Đ là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Ông Đ và bà T có 01 con chung tên Cù Quốc T1, sinh ngày 03/3/2014. Xét thấy, cháu T1 đang sống cùng ông Đ và tại Biên bản ghi nhận ý kiến con chưa thành niên ngày 25/10/2023 cháu T1 cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng ông Đ, do đó để tránh xáo trộn về mặt tâm sinh lý đối với con chung và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên nên Hội đồng xét xử tiếp tục để ông Đ nuôi dạy.
Về cấp dưỡng: Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn cha hoặc mẹ là người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, ông Đ không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện của đương sự.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Ông Đ xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Tuy nhiên, nếu có căn cứ xác định có tài sản chung, nợ chung thì các đương sự có thể khởi kiện và sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
[5] Về án phí: Ông Đ phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Các Điều 9, Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Khoản 4 Điều 147, các Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Cù Văn Đ.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Cù Văn Đ được ly hôn với bà Phan Thị T.
Về con chung: Ông Cù Văn Đ được tiếp tục nuôi dạy 01 (một) con chung tên Cù Quốc T1, sinh ngày 03/3/2014.
Công nhận sự tự nguyện của ông Đ về việc không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà T cùng các thành viên gia đình phải tôn trọng quyền trực tiếp nuôi con của ông Đ. Ông Đ và các thành viên trong gia đình không được cản trở bà T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.
Về án phí: Ông Cù Văn Đ phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Số tiền này được chuyển từ tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) mà ông Đ đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú theo biên lai thu số 0008572 ngày 06/10/2023. Bà T không phải chịu án phí.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
(Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Chúc Phương |
Bản án số 11/2024/HNGĐ-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 11/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cù Văn Đ và Phan Thị T
