Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH BẢO

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2024/DS-ST

Ngày 10-8-2024

V/v tranh chấp về thừa kế tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Hữu Hường

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Khanh

Bà Nguyễn Thị Tâm

Thư ký phiên toà: Ông Vũ Viết Hoàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Đào Duy Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2024/TLST- DS ngày 25 tháng 01 năm 2024 về việc tranh chấp về thừa kế tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số: 12/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi lịch xét xử số: 01/TB-TA ngày 06 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Vũ Thị N, sinh năm 1960; địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Vũ Văn L, sinh năm 1957; địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Vũ Thị T, sinh năm 1962; địa chỉ: Số H, ngách A, ngõ T, phường T, Quận Đ, Thành phố Hà Nội; có mặt;
  2. Vợ chồng ông Vũ Văn X và bà Trần Thị T1; địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
  3. Bà Phạm Thị T2, sinh năm 1959; địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
  4. Vợ chồng ông Vũ Văn T3 và bà Đặng Thị T4; địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
  5. Bà Vương Thị N1; địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
  6. Ủy ban nhân dân huyện V, thành phố Hải Phòng.

Người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân huyện V, thành phố Hải Phòng: Bà Vũ Ngọc D-Chức vụ: Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường Ủy ban nhân dân huyện V, thành phố Hải Phòng (Theo Văn bản ủy quyền số 03/VB-UQ ngày 30-01-2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện V); vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, nguyên đơn bà Vũ Thị N trình bày:

Bà Vũ Thị N có bố, mẹ đẻ là cụ Vũ Văn L1 (sinh năm 1936, chết năm 2021) và cụ Trần Thị B (sinh năm 1940, chết năm 1997). Cụ L1 và cụ B sinh được 04 người con là các ông, bà Vũ Văn L, Vũ Thị N, Vũ Thị T và Vũ Văn X. Ngoài 04 người con này, cụ L1 và cụ B không có con riêng, con nuôi nào khác. Quá trình chung sống, cụ L1 và cụ B tạo lập được tài sản chung là diện tích đất 320 m², thửa đất số 364, tờ bản đồ số 8, địa chỉ thửa đất: Cụm E (nay là thôn M), xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 497212 do Uỷ ban nhân dân (Sau đây viết tắt là UBND) huyện V cấp ngày 16-3-1998 cho ông Vũ Văn L1. Tài sản trên đất của cụ L1 và cụ B hiện nay không còn gì. Quá trình sử dụng đất, cụ L1 và cụ B không có tranh chấp với ai. Cụ L1 và cụ B chết không để lại di chúc và không để lại nghĩa vụ gì. Thửa đất của cụ L1 và cụ B khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có lối đi ra đường công cộng với lý do, trước đây, ngõ đi của gia đình cụ L1 và cụ B ở phía giáp ao hợp tác xã và một phần đất của gia đình ông X hiện nay. Ngõ có chiều ngang khoảng 1,5m, chiều dài từ đường công cộng kéo dài hết đất nhà ông X. Khoảng năm 1992, cụ L1 và cụ B cho ông X diện tích đất ngõ đi để vợ chồng ông X xây nhà ra ở riêng. Năm 1998, ông X được UBND huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 360, tờ bản đồ số 08, diện tích 137m²; địa chỉ thửa đất: Cụm E (nay là thôn M), xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng trong đó bao gồm diện tích ngõ đi vào thửa đất của cụ L1 và cụ B, dẫn đến thửa đất của cụ L1 và cụ Bầu k còn lối đi ra đường công cộng. Cụ L1 và cụ B phải đi nhờ đất của gia đình ông L (liền kề) để ra đường công cộng. Đối với diện tích đất 2,10m² nằm trên diện tích đất của gia đình ông Vũ Văn T3 phía sau tường bao giáp với hộ ông T3, trước kia là tường nhà của cụ L1 và cụ B; khi xây nhà các cụ đã để lại một phần diện tích đất sang phía nhà ông T3 để có giọt gianh. Đối với diện tích đất 8,3m² giáp với hộ bà Vương Thị N1, khi còn sống cụ L1 và cụ B đã cho bà Phạm Thị T5 (là mẹ chồng bà Vương Thị N1) diện tích đất này để xây nhà cấp bốn. Khi chia thừa kế bà N không yêu cầu hộ ông T3 và hộ bà N1 phải trả lại phần diện tích đất này. Tài sản thừa kế của cụ L1 và cụ B để lại có diện tích đất thực tế là 309,6m². Sau khi cụ B chết, cụ L1 sống một mình ở nhà cũ trên đất của các cụ. Sau này khi nhà xuống cấp, bà N và ông L đã tháo dỡ nhà của các cụ để ông L lấy gỗ, bà N đốt lò gạch trên nền nhà cũ đó thì cụ L1 chuyển sang sống ở gian nhà ngang trên đất của ông X hiện nay. Năm 2021, khi ốm nặng cụ L1 mới chuyển sang nhà vợ chồng ông L, bà T2 sống cho đến khi chết (Ngày 02-7-2021). Nay bà N khởi kiện yêu cầu Toà án tuyên huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 497213 do UBND huyện V cấp ngày 16-3-1998 cho vợ chồng ông Vũ Văn X và bà Trần Thị T1 đối với thửa đất số 360, tờ bản đồ số 8, địa chỉ: Cụm E (Nay là thôn M), xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng và yêu cầu Toà án chia thừa kế di sản của cụ L1 và cụ B là diện tích đất 320m² (diện tích đất thực tế là 309,6m²), thửa đất số 364, tờ bản đồ số 8, địa chỉ thửa đất: Cụm E (Nay là thôn M), xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng cho những người thừa kế của cụ L1 và cụ B gồm bà N, ông L, bà T và ông X theo pháp luật. Bà N đề nghị Toà án giao toàn bộ di sản cho ông X quản lý, sử dụng; bà N xin nhận kỷ phần thừa kế của mình giá trị bằng tiền.

Quá trình Toà án thụ lý, giải quyết vụ án cho đến trước khi Toà án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, bà N có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện yêu cầu Toà án tuyên huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 497213 do UBND huyện V cấp ngày 16-3-1998 cho vợ chồng ông Vũ Văn X và bà Trần Thị T1 đối với thửa đất số 360, tờ bản đồ số 8, địa chỉ: Cụm E (Nay là thôn M), xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng.

Tại Bản tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Vũ Văn L trình bày:

Thống nhất với trình bày của nguyên đơn về họ, tên, tuổi, năm sinh, năm mất và những người con của cụ L1 và cụ B, về tài sản của các cụ để lại, về diện tích đất thực tế, về ngõ đi của di sản thừa kế như nguyên đơn trình bày là đúng. Cụ L1 và cụ B chết không để lại di chúc, không để lại nghĩa vụ gì. Trên đất không còn tài sản gì của các cụ để lại. Sau khi cụ L1 chết, vợ chồng ông L là người trông coi, quản lý đất đai của cụ L1 và cụ B và đã xây dựng một số công trình và trồng một số cây trên đất của các cụ. Nay bà N yêu cầu chia di sản thừa kế là diện tích đất 309,6m², thửa đất số 364, tờ bản đồ số 8, địa chỉ thửa đất: Cụm E (nay là thôn M), xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng cho những người thừa kế là các ông, bà Vũ Văn L, Vũ Thị N, Vũ Thị T và Vũ Văn X theo pháp luật, ông L không đồng ý mà đề nghị giữ lại toàn bộ di sản để xây nhà thờ, làm tài sản chung của 04 anh em. Trường hợp Toà án chia di sản thừa kế của cụ L1 và cụ B theo pháp luật, ông L đề nghị giao toàn bộ di sản cho ông X và ông L xin nhận kỷ phần thừa kế của mình giá trị bằng tiền. Ông L cam kết sẽ tự nguyện tháo dỡ toàn bộ công trình và di dời cây trồng trên đất; đồng thời, ông L cũng không yêu cầu Toà án tính công sức chăm sóc, nuôi dưỡng cụ L1 cho vợ chồng ông. Khi chia thừa kế ông L không yêu cầu hộ ông Vũ Văn T3 phải trả lại diện tích đất 2,10m², không yêu cầu hộ bà Vương Thị N1 phải trả lại diện tích đất 8,3m².

Tại Bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị T trình bày:

Thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn về ngày cha chết, ngày mẹ chết, về tài sản của cha mẹ để lại, về diện tích đất thực tế của di sản thừa kế, về ngõ đi của di sản thừa kế như nguyên đơn, bị đơn trình bày là đúng. Nay bà N yêu cầu chia di sản của cụ L1 và cụ B cho những người thừa kế gồm các ông, bà Vũ Văn L, Vũ Thị N, Vũ Thị T và Vũ Văn X theo pháp luật, bà T thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị Toà án giao toàn bộ di sản cho ông X quản lý, sử dụng; bà T xin nhận kỷ phần thừa kế của mình giá trị bằng tiền. Khi chia thừa kế bà T không yêu cầu hộ ông Vũ Văn T3 phải trả lại diện tích đất 2,10m², không yêu cầu hộ bà Vương Thị N1 phải trả lại phần diện tích đất 8,3m².

Tại Bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Văn X trình bày:

Thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn về ngày cha chết, ngày mẹ chết, về tài sản của cha mẹ để lại, về diện tích đất thực tế của tài sản thừa kế, về ngõ đi của tài sản thừa kế như nguyên đơn, bị đơn trình bày là đúng. Nay bà N khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của bố mẹ để lại cho những người thừa kế gồm các ông, bà Vũ Văn L, Vũ Thị N, Vũ Thị T và Vũ Văn X theo pháp luật; ông X không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mà đề nghị Toà án chia di sản thừa kế của cụ L1 và cụ B theo di chúc cho ông X toàn bộ diện tích đất 320m² (diện tích đất thực tế là 309m²), thửa đất số 364, tờ bản đồ số 8, địa chỉ thửa đất: Cụm E (nay là thôn M), xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng theo Biên bản họp gia đình v/v chuyển quyền sử dụng đất ông X đã giao nộp cho Toà án. Khi chia thừa kế ông X không yêu cầu hộ ông Vũ Văn T3 phải trả lại diện tích đất 2,10m², không yêu cầu hộ bà Vương Thị N1 phải trả lại diện tích đất 8,3m². Trường hợp Toà án chia di sản thừa kế theo pháp luật, ông X xin nhận toàn bộ di sản và sẽ thanh toán kỷ phần thừa kế của các đồng thừa kế khác giá trị bằng tiền. Đối với yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 497213 do UBND huyện V cấp ngày 16-3-1998 cho ông Vũ Văn X trong đó có diện tích đất ngõ đi vào thửa đất của cụ L1 và cụ B là không có căn cứ. Vì, cụ L1 và cụ B cho vợ chồng ông X diện tích đất ngõ đi để vợ chồng ông X xây nhà là tự nguyện nên ông X không đồng ý với yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn.

Tại đơn đề nghị, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T1 (là vợ ông Vũ Văn X) trình bày:

Cụ L1 và cụ B cho vợ chồng ông X, bà T1 diện tích đất ngõ đi để vợ chồng ông X, bà T1 xây nhà là tự nguyện nên bà T1 không đồng ý với yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn.

Tại Biên bản ghi lời khai của đương sự, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị T2 (là vợ ông Vũ Văn L) trình bày:

Bà Phạm Thị T2 kết hôn với ông Vũ Văn L năm 1981. Sau khi kết hôn, bà T2 về sống cùng ông L và gia đình nhà chồng tại thửa đất hiện nay là tài sản thừa kế của cụ L1 và cụ B để lại. Sau đó, vợ chồng bà T2 mua đất, xây nhà ra ở riêng liền kề với thửa đất của L1 và cụ B. Khi cụ L1 và cụ B còn sống nhà đất của các cụ có ngõ đi ở phía giáp ao hợp tác xã và một phần đất của gia đình ông X hiện nay nhưng sau đó các cụ đã cho ông X diện tích đất ngõ đi để vợ chồng ông X xây nhà nên các cụ phải đi nhờ đất của gia đình bà T2 để ra đường công cộng như nguyên đơn trình bày là đúng. Vợ chồng bà T2 có xây dựng một số công trình và trồng một số cây trên đất của cụ L1 và cụ B. Trường hợp Toà án chia di sản thừa kế của cụ L1 và cụ B theo quy định của pháp luật, vợ chồng bà T2 sẽ tự nguyện tháo dỡ và di dời toàn bộ vật kiến trúc và cây trồng trên đất. Sau khi cụ B chết, vợ chồng bà T2 đã chăm sóc, nuôi dưỡng cụ L1 trong thời gian cụ L1 ốm yếu đến khi cụ L1 chết nhưng bà T2 không yêu cầu Toà án tính công sức chăm sóc, nuôi dưỡng cụ L1 cho vợ chồng bà.

Tại Biên bản ghi lời khai của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Văn T3 trình bày:

Đối với diện tích đất 2,10m² phía sau tường bao nhà cụ L1 và cụ B giáp với hộ ông T3, là do trước đây tường bao giữa hai gia đình là tường nhà của cụ L1 và cụ B; khi xây nhà các cụ đã chừa ra một phần diện tích đất sang phía nhà ông T3 để có giọt gianh. Nay bà N yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ L1 và cụ B nếu có liên quan đến diện tích đất 2,10m² giáp với hộ ông T3 thì gia đình ông T3 đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị T4 (là vợ ông Vũ Văn T3) vắng mặt tại phiên toà. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cũng như đã nhiều lần triệu tập bà T4 đến Toà án để làm việc, nhưng bà T4 đều vắng mặt không có lý do và không giao nộp văn bản trình bày quan điểm, ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho Toà án.

Tại Biên bản ghi lời khai của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vương Thị N1 trình bày:

Bà Vương Thị N1 là con dâu của bà Phạm Thị T5 và ông Dương Văn C. Sau khi bà N1 kết hôn với ông Dương Văn C1 (là con của bà Phạm Thị T5 và ông Dương Văn C) năm 2002, bà N1 về sống tại gia đình bà T5 liền kề với hộ cụ L1 và cụ B. Khi bà N1 về sống cùng gia đình thì đã có nhà cấp bốn tiếp giáp với đất của cụ L1 và cụ B. Sau khi bố mẹ chồng và chồng chết, bà N1 là người quản lý toàn bộ nhà đất của bố mẹ chồng để lại. Quá trình sử dụng đất giữa gia đình bà N1 và gia đình cụ L1, cụ B không có tranh chấp về đất giáp gianh liền kề. Nay Toà án giải quyết vụ án chia di sản thừa kế của cụ L1 và cụ B, bà N1 không tranh chấp và không có ý kiến gì.

Tại Công văn số 96/TNMT ngày 16-4-2021, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện V trình bày:

Theo số mục kê, bản đồ giải thửa xã N năm 1993, thửa đất số 360, tờ bản đồ số 8, diện tích 195m², mục đích sử dụng đất ao, chủ sử dụng là C2, Q, K. Theo số mục kê, bản đồ giải thửa xã N năm 1993, thửa đất số 369, tờ bản đồ số 8, diện tích 170m², mục đích sử dụng đất thổ cư, chủ sử dụng là ông Vũ Văn X. Theo số cấp giấy chứng nhận, ông Vũ Văn X được UBND huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số 819, diện tích 137m², cụ thể như sau: Thửa đất số 360, tờ bản đồ số 8, diện tích 137m², trong đó: 137m² đất ở. Theo sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Vũ Văn X được cấp số thửa, diện tích không trùng khớp với số liệu tại trang số mục kê mà ông Vũ Văn X làm chủ sử dụng đất. Ông Vũ Văn X và Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất chi nhánh huyện V không cung cấp được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Vũ Văn X. Do vậy, Phòng tài nguyên chưa đủ căn cứ trong việc ý kiến huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Vũ Văn X. Đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án như sau:

Thẩm phán đã xác định đúng về thẩm quyền giải quyết vụ án; về quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết; về tư cách tham gia tố tụng; về việc thu thập chứng cứ; về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát; việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự và khi có đương sự vắng mặt tại phiên tòa; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự tại phiên tòa đã được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 149, 623, 649, 650, 651, 660 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân năm 2015; Điều 2 Luật Người cao tuổi; các điều 6, 12, 14, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; xử: Chia thừa kế di sản của cụ Vũ Văn L1 và cụ Trần Thị B là diện tích đất 309,6m², thửa đất số 364, tờ bản đồ số 8; địa chỉ thửa đất: Cụm E (nay là thôn M), xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng theo pháp luật cho vợ chồng ông Vũ Văn L và bà Phạm Thị T2, bà Vũ Thị N, bà Vũ Thị T và ông Vũ Văn X cụ thể như sau: Giao cho ông Vũ Văn X quản lý, sử dụng toàn bộ di sản thừa kế của cụ Vũ Văn L1 và cụ Trần Thị B là diện tích đất 309,6m², thửa đất số 364, tờ bản đồ số 8, địa chỉ thửa đất: Cụm E (nay là thôn M), xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng có giá trị 3.096.000.000 đồng. Buộc ông Vũ Văn X phải thanh toán cho vợ chồng ông Vũ Văn L và bà Phạm Thị T2 919.125.000 đồng; thanh toán cho bà Vũ Thị N và bà Vũ Thị T mỗi người 725.625.000 đồng. Vợ chồng ông Vũ Văn L và bà Phạm Thị T2 có nghĩa vụ tháo dỡ và di dời toàn bộ vật kiến trúc và cây trồng trên diện tích đất 309,6m², thửa đất số 364, tờ bản đồ số 8, địa chỉ thửa đất: Cụm E (nay là thôn M), xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng ông Vũ Văn X được giao. Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị N đề nghị huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 497213 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 16-3-1998 cho ông Vũ Văn X tại thửa đất số 360, tờ bản đồ số 8, địa chỉ: Cụm E (nay là thôn M), xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng. Bà Vũ Thị N có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu này bằng vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật. Về án phí: Vợ chồng ông Vũ Văn L và bà Phạm Thị T2, bà Vũ Thị N và bà Vũ Thị T được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ông Vũ Văn X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 33.025.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế và đề nghị huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, đây là tranh chấp dân sự. Bị đơn có địa chỉ tại thôn M, xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện đề nghị huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do vậy, Toà án xác định lại quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp về thừa kế tài sản. Theo quy định tại khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

[2] Về thời hiệu khởi kiện: Cụ Trần Thị B chết năm 1997, cụ Vũ Văn L1 chết năm 2021. Căn cứ Điều 149, khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự, di sản thừa kế của cụ Vũ Văn L1 và cụ Trần Thị B còn thời hiệu chia di sản thừa kế.

[3] Về những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai đề nghị bổ sung người tham gia tố tụng, nên Hội đồng xét xử không bổ sung ai tham gia tố tụng ngoài những người đã được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử.

[4] Về tài liệu, chứng cứ: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, các đương sự không bổ sung, không đề nghị thu thập thêm tài liệu, chứng cứ nào khác. Căn cứ vào Điều 6; khoản 5, khoản 7 Điều 70; khoản 2 Điều 210; Điều 243 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

[5] Về sự vắng mặt của đương sự: UBND huyện V vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn ông Vũ Văn L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Văn X, bà Trần Thị T1, bà Phạm Thị T2, ông Vũ Văn T3, bà Đặng Thị T4 và bà Vương Thị N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên toà lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do và không có căn cứ xác định việc vắng mặt của những người này là do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ các điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

- Về nội dung vụ án:

[6] Về di sản thừa kế: Trên cơ sở lời khai của các đương sự và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng: Cụ Vũ Văn L1 có vợ là cụ Trần Thị B. Quan hệ hôn nhân của các cụ được xác lập trước ngày 15-01-1960 (ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 có hiệu lực ở miền B), nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Theo quy định tại Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, thì: “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới”. Sinh thời, cụ L1 và cụ B sinh sống tại căn nhà cấp bốn trên diện tích đất 320m², thửa đất số 364, tờ bản đồ số 8, địa chỉ thửa đất: Cụm E (nay là thôn M), xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng. Năm 1997, cụ B chết không để lại di chúc. Năm 1998, cụ L1 được UBND huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 497212 đối với thửa đất này. Như vậy, thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 497212 do UBND huyện V cấp ngày 16-3-1998 mang tên Vũ Văn L1 là tài sản chung của cụ L1 và cụ B. Năm 2021, cụ L1 chết không để lại di chúc. Theo sơ đồ hiện trạng, thửa đất có diện tích 309,6m² và diện tích đất 2,10m² nằm trên diện tích đất của gia đình ông Vũ Văn T3 và diện tích đất 8,30m² nằm trên diện tích đất của gia đình bà Vương Thị N1. Những người thừa kế của cụ L1 và cụ Bầu k yêu cầu gia đình ông T3 và gia đình bà N1 phải trả lại phần diện tích đất này khi chia thừa kế mà đề nghị Toà án công nhận diện tích đất thực tế còn lại là 309,6m². Như vây, có căn cứ xác định di sản của cụ L1 và cụ B để lại là diện tích đất 309,6m², thửa đất số 364, tờ bản đồ số 8, địa chỉ thửa đất: Cụm E (nay là thôn M), xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng.

[7] Về tài sản trên đất có 01 nhà kho 01 tầng trị giá 32.486.842 đồng; mái lợp Fibro xi măng trị giá 5.639.674 đồng; 02 chuồng gà trị giá 14.524.186 đồng; nhà vệ sinh đổ tro trị giá 5.843.275 đồng; chuồng lợn trị giá 30.070.656 đồng; móng nhà trị giá 13.297.397 đồng; mái lợp fibro xi măng sường tre trị giá 12.334.054 đồng; sân bê tông gạch vỡ trị giá 5.541.120 đồng; 01 cây mít đường kính gốc 40cm trị giá 3.000.000 đồng, 01 cây vải đường kính gốc 20cm trị giá 470.000 đồng, tổng giá trị là 130.755.000 đồng do vợ chồng ông L, bà T2 xây dựng và trồng cây trên đất. Trường hợp Toà án chia di sản thừa kế theo pháp luật, vợ chồng ông L, bà T2 không yêu cầu các đồng thừa kế khác phải thanh toán giá trị vật kiến trúc và cây trồng trên đất cho vợ chồng ông L, bà T2 mà tự tháo dỡ và di dời vật kiến trúc và cây trồng trên đất, nên Hội đồng xét xử không xét.

[8] Về hàng thừa kế khi cụ Vũ Văn L1 và cụ Trần Thị B chết: Cụ L1 và cụ B sinh được 04 người con là các ông bà Vũ Văn L, Vũ Thị N, Vũ Thị T và Vũ Văn X. Ngoài ra không còn người con nào khác, không có con riêng, không có con nuôi, bố mẹ cụ L1 và cụ B đều đã chết trước khi cụ L1 và cụ B chết. Cụ L1 và cụ B chết không để lại di chúc. Nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 650, điểm a khoản 1 Điều 651, Điều 654 Bộ luật Dân sự, người được thừa kế di sản của cụ L1 và cụ B khi cụ L1 và cụ B chết là các ông bà Vũ Văn L, Vũ Thị N, Vũ Thị T và Vũ Văn X.

[9] Về công sức gìn giữ, tôn tạo di sản: Cụ Vũ Văn L1 chết ngày 02-7-2021, cụ Trần Thị B chết ngày 27-3-1997. Trong thời gian cụ L1 và cụ B sinh sống thì cụ L1 và cụ B là người quản lý, sử dụng đất. Sau khi cụ L1 và cụ B chết, vợ chồng ông L, bà T2 là người trông coi, quản lý thửa đất của các cụ để lại. Cho nên, cần đánh giá vợ chồng ông L, bà T2 có công tôn tạo đất nên vợ chồng ông L, bà T2 được hưởng 1/4 suất thừa kế theo luật là phù hợp.

[10] Về chia di sản thừa kế theo di chúc hay theo pháp luật: Nguyên đơn bà Vũ Thị N yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật. Trong khi đó, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Văn X yêu cầu chia di sản thừa kế theo di chúc cho ông X toàn bộ di sản thừa kế của cụ L1 và cụ B để lại là diện tích đất 320m² (diện tích đất thực tế là 309,6m²), thửa đất số 364, tờ bản đồ số 8, địa chỉ thửa đất: Cụm E (nay là thôn M), xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng với lý do, ông X cho rằng, Biên bản họp gia đình về việc chuyển quyền sử dụng đất là di chúc và nội dung Biên bản thể hiện ý chí của cụ L1 đã tặng cho ông X toàn bộ thửa đất có diện tích 309,6m². Thấy rằng, Biên bản họp gia đình về việc chuyển quyền sử dụng đất ông X giao nộp cho Toà án là bản viết tay do ông Vũ Văn N2 được cụ L1 nhờ viết hộ, nội dung biên bản ghi năm 2005 nhưng không ghi ngày tháng, không thể hiện nội dung di sản cụ L1 tặng cho ông X là di sản gì. Biên bản không có chữ ký nhưng có chữ viết Vũ Văn L1 tại mục Người chuyển quyền (Bố). Trong khi đó, những người thừa kế của cụ L1 và cụ B đều xác nhận tại thời điểm ông Vũ Văn N2 viết biên bản này, cụ L1 không ký vào biên bản. Căn cứ các điều 624, 628, 630, 631, 633 Bộ luật Dân sự thì biên bản này không phải là di chúc nên yêu cầu chia di sản theo di chúc của ông X không có căn cứ. Do vậy, có căn cứ xác định cụ L1 và cụ B chết không để lại di chúc nên yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật của nguyên đơn là có căn cứ, được chấp nhận.

[11] Đối với việc ông Vũ Văn L không đồng ý chia di sản thừa kế mà đề nghị để lại toàn bộ diện tích đất 309,6m² làm nhà thờ, làm tài sản chung của 04 anh chị em gồm các ông bà Vũ Văn L, Vũ Thị N, Vũ Thị T và Vũ Văn X nhưng không được các đồng thừa kế khác chấp nhận nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu này của ông L.

[12] Về yêu cầu chia di sản thừa kế bằng hiện vật hay bằng giá trị: Nguyên đơn bà Vũ Thị N đề nghị giao toàn bộ di sản cho ông Vũ Văn X và bà N xin nhận kỷ phần thừa kế của mình giá trị bằng tiền. Bà Vũ Thị T cũng đề nghị giao toàn bộ di sản cho ông X và bà T xin nhận kỷ phần thừa kế của mình giá trị bằng tiền; còn ông Vũ Văn L đề nghị trường hợp Toà án chia di sản theo pháp luật thì giao toàn bộ di sản cho ông X và ông L xin nhận kỷ phần thừa kế giá trị bằng tiền. Trong khi đó, ông X đề nghị trường hợp Toà án chia di sản theo pháp luật thì ông X xin nhận toàn bộ di sản và sẽ thanh toán kỷ phần thừa kế của các đồng thừa kế khác giá trị bằng tiền.

[13] Về việc chia di sản thừa kế: Di sản thừa kế của cụ Vũ Văn L1 và cụ Trần Thị B xác định là diện tích đất 309,6m². Trên cơ sở kết quả định giá tài sản xác định (309,6m² x 10.000.000 đồng/m²) là 3.096.000.000 đồng được chia theo pháp luật cho các ông bà Vũ Văn L, Vũ Thị N, Vũ Thị T và Vũ Văn X. Vợ chồng ông Vũ Văn L và bà Phạm Thị T2 được hưởng 1/4 suất thừa kế theo luật. Như vậy, di sản thừa kế của cụ L1 và cụ B được chia cho vợ chồng ông L và bà T2 1/4 suất thừa kế theo pháp luật trị giá 193.500.000 đồng, còn lại chia thành 04 kỷ phần cho các ông bà Vũ Văn L, Vũ Thị N, Vũ Thị T và Vũ Văn X. Mỗi kỷ phần trị giá 725.625.000 đồng. Ông X đề nghị nhận toàn bộ di sản thừa kế và thanh toán kỷ phần thừa kế cho các đồng thừa kế khác giá trị bằng tiền. Trong khi những đồng thừa kế khác cũng đề nghị giao toàn bộ di sản thừa kế cho ông X và nhận kỷ phần thừa kế của mình giá trị bằng tiền. Cho nên, cần giao toàn bộ di sản thừa kế là diện tích đất 309,6m² cho ông X quản lý, sử dụng. Ông X có nghĩa vụ thanh toán cho vợ chồng ông L và bà T2 (725.625.000 đồng + 193.500.000 đồng) 919.125.000 đồng, thanh toán cho bà N và bà T mỗi người 725.625.000 đồng.

[14] Đối với việc vợ chồng ông L và bà T2 không yêu cầu Toà án tính công sức chăm sóc, nuôi dưỡng cụ L1 cho vợ chồng ông L, bà T2 nên Hội đồng xét xử không xét.

[15] Đối với việc gia đình ông Vũ Văn T3 và bà Đặng Thị T4 hiện đang sử dụng diện tích đất 2,10m² di sản thừa kế; gia đình bà Vương Thị N1 đang sử dụng diện tích đất 8,3m² di sản thừa kế nhưng các đồng thừa kế không yêu cầu gia đình ông T3 và gia đình bà N1 phải trả lại phần diện tích đất này nên Hội đồng xét xử không xét.

[16] Đối với việc bà N rút yêu cầu khởi kiện đề nghị huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 497213 do UBND huyện V cấp ngày 16-3-1998 cho ông X tại thửa đất số 360, tờ bản đồ số 8, địa chỉ: Cụm E (nay là thôn M), xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng. Thấy rằng, việc rút yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện, phù hợp quy định tại các điều 243, 244 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn. Bà N có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu này bằng vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.

[17] Về chi phí tố tụng: Đối với số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản nguyên đơn đã nộp nhưng không có yêu cầu gì khác về số tiền đã nộp nên Hội đồng xét xử không xét.

[18] Về án phí: Vợ chồng ông L và bà T2, bà N và bà T thuộc đối tượng người cao tuổi (trên 60 tuổi) và có đơn đề nghị miễn án phí Toà án nên theo quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi; Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, vợ chồng ông L và bà T2, bà N, bà T được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm. Theo quy định tại khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, ông X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với giá trị phần tài sản ông X được nhận là 33.025.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 149, Điều 623, Điều 649, Điều 650, 651, 660 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân năm 2015; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959; Điều 2 Luật Người cao tuổi; Điều 6, Điều 12, Điều 14, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử:

  1. Chia thừa kế di sản của cụ Vũ Văn L1 và cụ Trần Thị B là diện tích đất 309,6m², thửa đất số 364, tờ bản đồ số 8; địa chỉ thửa đất: Cụm E (nay là thôn M), xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng theo pháp luật cho vợ chồng ông Vũ Văn L và bà Phạm Thị T2, bà Vũ Thị N, bà Vũ Thị T và ông Vũ Văn X cụ thể như sau:
    1. Giao cho ông Vũ Văn X quản lý, sử dụng toàn bộ di sản thừa kế của cụ Vũ Văn L1 và cụ Trần Thị B là diện tích đất 309,6m², thửa đất số 364, tờ bản đồ số 8, địa chỉ thửa đất: Cụm E (nay là thôn M), xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng có giá trị 3.096.000.000 (Ba tỷ không trăm chín mươi sáu triệu) đồng.

      Diện tích đất bao gồm các điểm (có sơ đồ thửa đất kèm theo).

    2. Buộc ông Vũ Văn X phải thanh toán cho vợ chồng ông Vũ Văn L và bà Phạm Thị T2 919.125.000 (Chín trăm mười chín triệu một trăm hai mươi lăm nghìn) đồng; thanh toán cho bà Vũ Thị N và bà Vũ Thị T mỗi người 725.625.000 (Bẩy trăm hai mươi lăm triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn) đồng.

      Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi xuất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

    3. Vợ chồng ông Vũ Văn L và bà Phạm Thị T2 có nghĩa vụ tháo dỡ và di dời toàn bộ vật kiến trúc và cây trồng trên diện tích đất 309,6m², thửa đất số 364, tờ bản đồ số 8, địa chỉ thửa đất: Cụm E (nay là thôn M), xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng ông Vũ Văn X được giao.
    4. Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị N đề nghị huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 497213 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 16-3-1998 cho ông Vũ Văn X tại thửa đất số 360, tờ bản đồ số 8, địa chỉ: Cụm E (nay là thôn M), xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng. Bà Vũ Thị N có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu này bằng vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.
  2. Về án phí: Vợ chồng ông Vũ Văn L và bà Phạm Thị T2, bà Vũ Thị N và bà Vũ Thị T được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ông Vũ Văn X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 33.025.000 (Ba mươi ba triệu không trăm hai mươi lăm nghìn) đồng.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Vĩnh Bảo;
  • - Chi cục THADS huyện Vĩnh Bảo;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đinh Hữu Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/DS-ST ngày 10/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 11/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án dân sự giữa bà Vũ Thị Ng - ông Vũ Văn L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger