Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIM BÔI

TỈNH HÒA BÌNH

Bản án số : 11/2024/HNGĐ-ST

Ngày 10/07/2024.

V/v: Ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BÔI TỈNH HÒA BÌNH

- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Mai Linh.

Các Hội thẩm nhân dân : ông Nguyễn Văn Hưng và bà Bùi Thị Quỳnh

Thư ký phiên toà: Bà Bùi Hồng Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên toà: Bà Bùi Thanh Lương – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 07 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án HNGĐ thụ lý số 90/2023/HNGĐ - ST ngày 06/10/2023 về việc “ Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/05/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Bùi Văn L, sinh năm 1968; ĐKHKTT: Khu L, thị trấn B, huyện K, tỉnh Hòa Bình. Có đơn xin xét xử vắng mặt

Bị đơn: Bà Trương Thị T, sinh năm 1969; ĐKHKTT : Khu L, thị trấn B, huyện K, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Bùi Văn L trình bày:

Ông và bà T kết hôn năm 1989 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên và tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương, do bị thất lạc mất giấy đăng ký kết hôn cùng với thời gian đã lâu nên ông không nhớ đăng ký kết hôn cụ thể vào thời gian nào. Quá trình chung sống thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu do bất đồng quan điểm về kinh tế và sinh hoạt hàng ngày, vợ chồng thường xuyên cãi vã, họ hàng đã nhiều lần khuyên giải nhưng mâu thuẫn không khắc phục được, vợ chồng đã sống ly thân hơn 20 năm. Nay tình cảm không còn nên ông xin ly hôn bà T. Hiện nay bà T vắng mặt tại địa phương ông cũng không rõ đi đâu làm gì, ông có gọi điện yêu cầu bà T đến Tòa để giải quyết việc ly hôn nhưng bà T vẫn cố tình không đến, vì vậy ông có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và xét xử cho ông được ly hôn bà T.

- Về con chung: Có 02 con chung là Bùi Văn T1, sinh năm 1989 và Bùi Thị Thủy s năm 1992, hiện hai cháu đều đã trưởng thành và lập gia đình riêng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và công sức đóng góp : Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết.

- Về công nợ chung : Không có

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng Bị đơn không đến Tòa làm việc.

Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương nơi cư trú của các đương sự, kết quả xác minh : Ông Bùi Văn L và bà Trương Thị T sinh sống và có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu L, thị trấn B, huyện K, tỉnh Hòa Bình, ông L và bà T chung sống với nhau từ năm 1989 và đã có 02 con chung, hiện các con đều đã trưởng thành và lập gia đình riêng. Hai vợ chồng ông L thường xuyên cãi vã, chính quyền địa phương, tổ dân phố đã nhiều lần can thiệp, hòa giải, nguyên nhân chủ yếu là do mâu thuẫn về vấn đề kinh tế gia đình. Hiện nay bà T đi làm ăn xa, không có mặt tại địa phương, không rõ địa chỉ cụ thể. Gia đình và tổ dân phố đã nhận được các thông báo của Tòa án và gửi lại cho bà T qua ứng dụng Zalo trên điện thoại, đồng thời vận động bà đến Tòa giải quyết việc ông L xin ly hôn.

Do vụ án không tiến hành hòa giải được nên phải đưa ra xét xử.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi xét xử. Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung : Đề nghị HĐXX căn cứ vào khoản 7 điều 28; khoản 1 điều 35; khoản 4 điều 147 BLTTDS; Điều 9, Điều 14; khoản 2 Điều 53; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của BLTTDS; Điểm c khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09 tháng 6 năm 2000 của Quốc Hội; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BT ngày 03/01/2001 của Bộ tư pháp - Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của ông Bùi Văn L. Không công nhận ông Bùi Văn L và bà Trương Thị T là vợ chồng.
  2. Về tài sản chung và công sức đóng góp : Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
  3. Về công nợ chung : Không có.

Đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng : Quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa, các đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đều hợp pháp.

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có trong Hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về hôn nhân gia đình, cụ thể là về việc “ Ly hôn”. Bị đơn có đăng ký HKTT tại khu L, thị trấn B, huyện K, tỉnh Hòa Bình. Vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.

Tại phiên tòa nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Xét đơn xin ly hôn của ông Bùi Văn L :

Ông L và bà T về chung sống với nhau từ năm 1989 có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương trên cơ sở tự nguyện, có thời gian tìm hiểu và được họ hàng nội ngoại hai bên thừa nhận. Quá trình chung sống thời gian đầu cuộc sống chung diễn ra hạnh phúc. Từ năm 2010 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, hai vợ chồng thường xuyên cãi vã nên ông bà đã sống ly thân từ đó đến nay, tình cảm không còn, vì vây ông L làm đơn xin ly hôn bà T.

Bà T hiện vắng mặt tại địa phương, Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương nơi cư trú cuối cùng của bà T. Theo kết quả xác minh : Bà Trương Thị T là công dân có đăng ký HKTT tại khu L, thị trấn B, huyện K, tỉnh Hòa Bình, hiện chưa cắt chuyển khẩu đi đâu nhưng vắng mặt tại địa phương, không rõ địa chỉ nơi cư trú mới. Quá trình giải quyết vụ án bà T đã được đại diện khu L và bà Bùi Thị S - chị gái ông L thông báo cho biết việc Tòa án đang thụ lý giải quyết đơn xin ly hôn của ông L cũng như các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng bà T vẫn không đến Tòa làm việc và cũng không cung cấp địa chỉ nơi cư trú mới của mình. Vì vậy Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật.

Xét thấy: Ông L trình bày có đăng ký kết hôn với bà T năm 1989 tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình giải quyết vụ án ông L không xuất trình được giấy chứng nhận đăng ký kết hôn giữa ông L và bà T cũng như các giấy tờ khác chứng minh cho việc hai ông bà có đăng ký kết hôn năm 1989.

Tại đơn đề nghị trích lục đăng ký kết hôn ngày 18/8/2023 của ông Bùi Văn L. Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã xác nhận sổ đăng ký kết hôn và hồ sơ đăng ký kết hôn của ông Bùi Văn L và bà Trương Thị T hiện tại không còn lưu trữ tại UBND xã T.

Như vậy không đủ căn cứ xác định ông L và bà T có đăng ký kết hôn năm 1989 tại UBND xã T như ông L đã khai.

Việc ông L và bà T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1989, có đủ điều kiện kết hôn theo quy định pháp luật nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Căn cứ Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BT ngày 03/01/2001 của Bộ tư pháp - Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao; khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09 tháng 6 năm 2000 của Quốc Hội thì quan hệ hôn nhân giữa ông Bùi Văn L và bà Trương Thị T không phải là hôn nhân thực tế và không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Văn L, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Bùi Văn L và bà Trương Thị T.

- Về con chung : Có 02 con chung là con là Bùi Văn T1, sinh ngày 18/05/1989 và Bùi Thị T2, sinh ngày 03/02/1992, cả hai đều đã đủ tuổi trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và công sức đóng góp : Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về công nợ chung : Không có.

[3] Về án phí: Ông Bùi Văn L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 7 điều 28; khoản 1 điều 35; khoản 4 điều 147 BLTTDS; Điều 9, Điều 14; khoản 2 Điều 53; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của BLTTDS; Điểm c khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09 tháng 6 năm 2000 của Quốc Hội; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BT ngày 03/01/2001 của Bộ tư pháp - Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Tuyên xử :

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của ông Bùi Văn L. Không công nhận ông Bùi Văn L và bà Trương Thị T là vợ chồng.
    • - Về con chung : Có 02 con chung đều đã đủ tuổi trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.
    • - Về tài sản chung và công sức đóng góp : Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
    • - Về công nợ chung : Không có.
  2. Về án phí : Ông Bùi Văn L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được đối trừ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0003101 ngày 06/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.
  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND huyện Kim Bôi;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS huyện Kim Bôi;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Bùi Thị Mai Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/HNGĐ-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BÔI TỈNH HÒA BÌNH về ly hôn

  • Số bản án: 11/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BÔI TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Bùi Văn L yêu cầu ly hôn bà Trưng Thị T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger