Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN DŨNG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 11/2024/HNGĐ-ST

Ngày 10 - 5 - 2024

V/v: Ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Ngọc Biên, bà Nguyễn Thị Thủy Khơi.

Thư ký phiên tòa: Ông Mông Anh Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng tham gia phiên toà: Ông Vũ Hồng Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 207/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024 giữa:

Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị A, sinh năm 1976 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn B, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1978 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị Hoàng Thị A trình bày:

Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn H vào năm 2018 trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Y. Cưới xong chị về ở với anh H tại thôn H, xã Đ. Vợ chồng chung sống được 03 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H thường có hành vi bạo hành, đánh đập, đe dọa nên chị bỏ về gia đình bố mẹ đẻ tại huyện S từ tháng 02/2019 đến nay. Từ đó chị và anh H không còn quan hệ tình cảm gì với nhau nữa, việc ai người đó làm, không ai quan tâm đến ai. Nay thời gian sống ly thân đã lâu (hơn 5 năm), chị thấy vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn H không có con chung, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về vấn đề này.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị và anh H không có tài sản chung, công nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là anh Nguyễn Văn H:

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh Nguyễn Văn H nhiều lần nhưng anh H không đến làm việc. Tại biên bản xác minh với chính quyền địa phương nơi anh H cư trú, được biết anh H là người vẫn đăng ký thường trú và sinh sống tại thôn H, xã Đ, huyện Y nhưng do anh H làm nghề lái xe nên thường vắng nhà vào ban ngày, buổi tối anh H vẫn ở nhà.

Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Giấy triệu tập tại Nhà văn hóa thôn H1; trụ sở UBND xã Đ và Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Hết thời hạn niêm yết công khai, Tòa án không nhận được văn bản ghi ý kiến của anh H đối với yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị A; tại các phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải anh H đều vắng mặt không lý do. Do vậy Tòa án không thu thập được lời khai của anh Nguyễn Văn H.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm phát biểu ý kiến:

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán và Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về phía các đương sự, nguyên đơn là chị Hoàng Thị A đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn là anh Nguyễn Văn H không cung cấp văn bản ghi ý kiến, vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ là chưa thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 9, 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; các điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về xử lý án phí, lệ phí, xử:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị A được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
  • - Về con chung, tài sản chung, công nợ, ruộng canh tác: Do đương sự xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
  • - Về án phí: Chị Hoàng Thị A là nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị A đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
  • - Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng:

Chị Hoàng Thị A là người có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc “Ly hôn” với anh Nguyễn Văn H. Bị đơn anh Nguyễn Văn H là người có địa chỉ cư trú tại thôn H, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:

Đối với chị Hoàng Thị A: Chị A đã được tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập, nhưng chị A đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Đối với anh Nguyễn Văn H: Ngày 26/4/2024 Tòa án đã tống đạt trực tiếp Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập cho anh H, anh có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.

Do vậy căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị A và anh H.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị A và anh Nguyễn Văn H kết hôn với nhau vào ngày 11/12/2018 trên tinh thần tự nguyện, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (Trích lục kết hôn số 959/2023/TLKH-BS do UBND xã Đ cấp ngày 28/9/2023). Do vậy xác định quan hệ giữa chị Hoàng Thị A và anh Nguyễn Văn H là hôn nhân hợp pháp.

[3.2] Về mâu thuẫn vợ chồng:

Căn cứ tài liệu xác minh, thu thập trong hồ sơ cho thấy: Chị Hoàng Thị A và anh Nguyễn Văn H trong cuộc sống có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hòa hợp, bất đồng về tình cảm. Chị A bỏ về quê ở huyện S, tỉnh Bắc Giang sống cùng bố mẹ đẻ từ tháng 02/2019 đến nay, cắt đứt mọi quan hệ tình cảm với anh H.

Tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình có quy định về việc vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, cụ thể:

“Điều 19. Tình nghĩa vợ chồng

1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”.

Như vậy, việc chị A – anh H sống ly thân từ tháng 02/2019 đến nay chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng là có thật. Vợ chồng đã không ở cùng nhau, không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong thời gian rất dài. Phía anh H không thiện chí hòa giải để hàn gắn hôn nhân, vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc cũng như tại phiên tòa. Do vậy, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị Hoàng Thị A, xử cho chị A được ly hôn với anh H là phù hợp quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3.3] Về con chung: Chị Hoàng Thị A và anh Nguyễn Văn H không có con chung, không yêu cầu giải quyết vấn đề này nên không đặt ra xem xét.

[3.4] Về tài sản, công nợ chung: Do chị Hoàng Thị A không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Về án phí: Chị Hoàng Thị A là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội.

[5] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 9, 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 180; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 280; Điều 385 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị A được ly hôn anh Nguyễn Văn H.

2. Về án phí: Chị Hoàng Thị A phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị A đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000483 ngày 21 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Hoàng Thị A đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lương Ngọc BiênNguyễn Thái Sơn
Nguyễn Thị Thủy Khơi

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Yên Dũng;
  • - UBND xã Đức Giang, huyện Yên Dũng, BG;
  • - Đương sự;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Dũng;
  • - Cổng thông tin điện tử TAND tối cao.
  • - Lưu HS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thái Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/HNGĐ-ST ngày 10/05/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang về ly hôn

  • Số bản án: 11/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger