TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 11/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10 - 01 - 2024 Về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Ngọc Tiếp
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Hồ Cảnh; ông Võ Duy Bảo.
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Châu - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Bằng Giang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 286/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 350/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Võ Thị Anh T, sinh 1999
- Bị đơn: anh Phạm Ngọc P, sinh năm 1998
Địa chỉ: xóm V, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An.
Xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: xóm V, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An.
Hiện nay đang ở nước ngoài (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, lời trình bày có tại hồ sơ vụ án, nguyên đơn – chị Võ Thị Anh T trình bày:
Chị Võ Thị Anh T và anh Phạm Ngọc P tự nguyện yêu thương nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An ngày 01 tháng 3 năm 2021. Sau khi kết hôn, chị T, anh P chung sống cùng bố mẹ chồng tại xóm V, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Tháng 3/2022 anh P xuất khẩu lao động sang Hàn Quốc thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn cho đến nay, do hai bên không quan tâm tới nhau và đã chấm dứt mọi quan hệ vợ chồng. Chị T yêu cầu được ly hôn anh Phạm Ngọc P.
Về con chung: chị Võ Thị Anh T và anh Phạm Ngọc P có 01 người con chung là Phạm Minh H, sinh ngày 05 tháng 01 năm 2021, hiện đang do chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn, chị T yêu cầu giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: chị Võ Thị Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn - anh Phạm Ngọc P:
Tòa án đã thực hiện tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng cho thân nhân và niêm yết các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật về tố tụng dân sự. Chị Võ Thị Anh T không cung cấp được địa chỉ nơi cư trú, làm việc hiện nay của anh Phạm Ngọc P. Tòa án đã gửi văn bản yêu cầu bà Nguyễn Thị B (mẹ đẻ anh P, trú tại xóm V, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An) cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn (anh P) cũng như yêu cầu bà B thông báo cho anh P biết Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm giữa chị T và anh P, đồng thời yêu cầu anh P cung cấp thông tin về nơi cư trú, làm việc hiện nay của anh P, trình bày ý kiến về vụ án trên, gửi Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An để Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật. Bà Nguyễn Thị B (mẹ đẻ anh P) cho biết: thời gian ở nước ngoài, anh P thường xuyên liên lạc về với bà (B) qua zalo, facebook, nhưng anh P không cung cấp cho gia đình, Tòa án biết địa chỉ nơi cư trú, làm việc hiện nay của anh P nên bà không cung cấp cho Tòa án về các thông tin này. Bà đã thông báo cho anh P biết rõ Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm giữa chị T và anh P, theo đơn khởi kiện của chị T, nhưng anh P không có ý kiến gì. Đến nay, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An không nhận được văn bản nào thể hiện ý kiến của anh P liên quan đến nội dung giải quyết vụ án trên; không nhận được thông tin về nơi cư trú, nơi làm việc hiện nay của anh P.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án đã thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Võ Thị Anh T được ly hôn anh Phạm Ngọc P; về con chung: giao con chung là Phạm Minh H, sinh ngày 05 tháng 01 năm 2021 cho chị Võ Thị Anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con: chị T không yêu cầu nên không xem xét; về tài sản chung, nợ chung: chị T chưa yêu cầu, nên không xem xét; về án phí: chị Võ Thị Anh T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, trên cơ sở xem xét đầy đủ các chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng
- Nguyên đơn - chị Võ Thị Anh T và bị đơn - anh Phạm Ngọc P có hộ khẩu thường trú tại xóm V, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Bị đơn hiện đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về sự vắng mặt của đương sự
- Về nội dung
- Về quan hệ hôn nhân
- Về con chung
- Về tài sản chung, nợ chung
- Về án phí sơ thẩm
Nguyên đơn - chị Võ Thị Anh T, đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn - anh Phạm Ngọc P vắng mặt tại phiên tòa. Theo Công văn số 22519/QLXNC-P5 ngày 30/8/2023 của Cục Q - Bộ C thì anh Phạm Ngọc P xuất cảnh qua cửa khẩu N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Chị Võ Thị Anh T không cung cấp được địa chỉ nơi cư trú, làm việc của anh Phạm Ngọc P. Tòa án đã gửi văn bản đề nghị bà Nguyễn Thị B (mẹ đẻ anh Phạm Ngọc P), yêu cầu bà B cung cấp địa chỉ nơi cư trú, nơi làm việc hiện nay của bị đơn (anh P) và thông báo cho anh P biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết vụ án về tranh chấp nhân và gia đình giữa chị T và anh P, theo đơn khởi kiện của chị T, đề nghị anh P gửi lời khai cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An để Tòa án xem xét, giải quyết vụ án. Theo tài liệu có tại hồ sơ vụ án, bà Nguyễn Thị B đã thực hiện đúng, đầy đủ các yêu cầu của Tòa án, nhưng anh P không cho bà B biết nơi cư trú, làm việc hiện nay của anh P và không có ý kiến gì về vụ án. Đến nay, Tòa án không nhận được văn bản thể hiện ý kiến, quan điểm của anh Phạm Ngọc P về vụ án trên; không nhận được tin tức, địa chỉ nơi cư trú, làm việc của anh P, chứng tỏ bị đơn - anh Phạm Ngọc P cố tình dấu địa chỉ, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.
Do đó, Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử vắng mặt nguyên, bị đơn là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự và Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ.
Chị Võ Thị Anh T và anh Phạm Ngọc P kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 01/3/2021 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An, trên cơ sở tự nguyện, là hôn nhân hợp pháp. Tháng 3/2022, anh P đi lao động tại nước ngoài, cũng từ đó vợ chồng xẩy ra mâu thuẫn dẫn đến chấm dứt mọi quan hệ, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trâm trọng, kéo dài. Xét thấy tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Võ Thị Anh T ly hôn anh Phạm Ngọc P.
Chị Võ Thị Anh T và anh Phạm Ngọc P có một con chung là Phạm Minh H, sinh ngày 05 tháng 01 năm 2021, đang do chị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao cho chị Võ Thị Anh T được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Minh H. Anh P có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Anh P có thể khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị Võ Thị Anh T chưa yêu cầu và anh P chưa có ý kiến, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Chị Võ Thị Anh T chưa yêu cầu và anh P chưa có ý kiến, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
Chị Võ Thị Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51; 53; 56; 58; 81; 82; 83; 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm b khoản 2 Điều 207; Điều 147; điểm a khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố dụng dân sự; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về án phí và lệ phí Tòa án, xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Võ Thị Anh T.
- Về quan hệ hôn nhân: chị Võ Thị Anh T được ly hôn anh Phạm Ngọc P.
- Về con chung:
- Giao con chung là Phạm Minh H, sinh ngày 05 tháng 01 năm 2021 cho chị Võ Thị Anh T trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 01/2024 đến khi cháu H đủ 18 tuổi, trưởng thành.
- Về cấp dưỡng: chị Võ Thị Anh T chưa yêu cầu và anh Phạm Ngọc P chưa có ý kiến gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
- Về án phí: chị Võ Thị Anh T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An, theo Biên lai số 0004468 ngày 13/10/2023.
- Về quyền kháng cáo:
- Chị Võ Thị Anh T vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày Bản án sơ thẩm được tống đạt hợp lệ.
- Anh Phạm Ngọc P đang cư trú tại nước ngoài, được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được Bản án sơ thẩm hoặc Bản án sơ thẩm được niêm yết hợp lệ./.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TÒA PHIÊN TÒA Hồ Ngọc Tiếp |
Bản án số 11/2024/HNGĐ-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 11/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
