|
TÒA ÁN ND HUYỆN NGA SƠN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 11/2024/HSST Ngày: 09-5-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quản; ông Phạm Bá Luyến.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 09/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2024/TLST-HS ngày 21/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXST-HS ngày 26/4/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T - Sinh năm 1982 - KHTT: Thôn X, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa - Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và Nguyễn Thị L; có vợ là Nguyễn Thị D và có 03 người con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 03/3/2024 đến nay - Có mặt.
- Bị hại: Bà Bùi Thị H - Sinh năm 1953 - Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa – Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn C – Sinh năm 1970 – Địa chỉ: Số B, đường N, phường T, TP ., tỉnh Thanh Hóa – Vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác: Người làm chứng:
- Anh Bùi Huy T1 - Sinh năm 1981 - Địa chỉ: P N Chung cư Đ, phường Đ, TP ., tỉnh Thanh Hóa – Vắng mặt.
- Bà Hà Thị L1 – Sinh năm 1970 - Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa – Vắng mặt.
- Anh Ngô Văn H1 – Sinh năm 1981 – Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa – Vắng mặt.
- Anh Mai Văn H2 – Sinh năm 1976 – Địa chỉ: Thôn C, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa – Vắng mặt.
- Anh Phạm Văn S Sinh năm 1979 – Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 18/10/2021, T3 có Quyết định số 49955/QĐ- TCĐBVN về việc phê duyệt báo cáo kinh tế - kỹ thuật công trình sửa chữa, bổ sung rãnh thoát nước đoạn Km 200+600 - Km201+00; Km203+395 - Km204+360 (P+T); Km228+800 - Km299+180 (T); Km229+350 Km229+530 (P); Km229+530 Km230 +700 (T); Km231+320 - Km 231+ 480 (P), Quốc lộ A, tỉnh Thanh Hóa (gọi tắt là: “Gói thầu số 2”) của Ban Q1 (có địa chỉ: Tổ B, phường L, quận H, thành phố Hà Nội).
Ngày 24/01/2022, Công ty cổ phần X (có địa chỉ: phố T, phường Q, thành phố T) và Công ty Cổ phần X1 (có địa chỉ tại: Lô I, N, Đ, phường Đ, thành Phố T) đã có thỏa thuận liên danh cùng nộp hồ sơ và báo cáo về các biện pháp tổ chức thi công và đảm bảo an toàn thi công của “Gói thầu số 2” trình đại diện chủ đầu tư Ban Q1 để dự thầu. Đến ngày 17/3/2022, Ban quản lý dự án 3 đã có thông báo số: 15/TB-BQLDA3 về việc chấp thuận hồ sơ dự thầu và trao hợp đồng cho liên danh Công ty cổ phần X - Công ty Cổ phần X1 làm nhà thầu thực hiện “Gói thầu số 2”.
Ngày 24/3/2022, Ban Q1 và Công ty Cổ phần X1 - Địa chỉ: lô I, nhà N, khu Đ, phường Đ, thành phố T có Hợp đồng thi công xây dựng công trình: Sửa chữa, bổ sung biển báo và vạch sơn đường; bổ sung rãnh thoát nước đoạn trên Quốc lộ A, đoạn đi qua địa phận xã N, huyện N.
Sau khi trúng thầu, Công ty X1 ra Quyết định thành lập Ban chỉ huy công trường số 12 ngày 25/3/2022 gồm có: Ông Trần Văn C là quản lý chung; ông Bùi Huy T1: chỉ huy công trường.
Do công trường thi công còn có các dây cáp quang và cột viễn thông nên ngày 30/3/2022, Chi cục quản lý đường bộ I có công văn số: 187/CCQLĐBII.1-QL T QL1 &10 về việc giải phóng mặt bằng và di dời các công trình thiết yếu phục vụ thi công dự án “Gói thầu số 2” gửi đến UBND huyện N; Viễn thông T; V, yêu cầu các đơn vị di dời các công trình thiết yếu (đường điện, đường nước, cáp quang...) ra khỏi phạm vi xây dựng đoạn từ Km200+600 - Km201+00 thuộc địa bàn xã N và K - Km 204+ 360 thuộc địa phận xã N, huyện N trước ngày 12/4/2022. Nếu sau 12/4/2022, các đơn vị không thực hiện di dời, nhà thầu thi công xây dựng công trình vẫn tiến hành thi công dự án và không chịu trách nhiệm nếu công trình thiết yếu bị hư hỏng hoặc phá dỡ.
Ngày 07/4/2022, Cục Q2 có văn bản số 55/TTh- CQLĐBII về việc thỏa thuận thi công với nhà thầu thi công (liên danh Công ty cổ phần X – Công ty cổ phần X1) được phép thi công công trình “Gói thầu số 2) có thời hạn từ ngày 06/4/2022 đến hết ngày 25/9/2022 nhưng do mặt bằng chưa giải phóng xong mà thời hạn thi công Gói thầu số 02 sắp hết nên ngày 21/9/2022, T3 có công văn số 5727/TCĐBVN-CQLXĐB về việc gia hạn thời gian thi công. Đến ngày 26/9/2022, Cục Q2 có văn bản số 273/TTh-CQLĐBII về việc thỏa thuận thi công (gia hạn lần 1) với nhà thầu thi công (liên danh Công ty cổ phần X – Công ty cổ phần X1) được phép thi công công trình “Gói thầu số 2” có thời hạn từ ngày 26/9/2022 đến hết ngày 30/11/2022.
Sau khi nhận được thông báo về việc di dời cột bê tông treo cáp viễn thông tại lề phía tây Quốc lộ A, Trung tâm V1 đã chủ động tháo, di dời các đường dây cáp quang dọc bên đường, còn các cây cột bê tông treo dây cáp chôn ở lề đường phía tây QL10 do địa thế của xã N không có vị trí lắp đặt mới nên Trung tâm V1 không sử dụng nữa mà bỏ lại cho Công ty cổ phần X1 thực hiện di dời để lấy mặt bằng thi công.
Do số lượng cột bê tông ít, lại phải đảm bảo thời gian tiến độ thi công nên ông Bùi Huy T1 là chỉ huy công trường không báo cáo với ông Trần Văn C là quản lý chung mà chỉ quán triệt, phân công nhiệm vụ cụ thể cho Nguyễn Văn T (sinh năm: 1982 trú tại thôn X, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa- là công nhân của Công ty CP X2 hợp đồng lao động số: 1/22/HĐLĐ, có chứng chỉ hành nghề vận hành xe đào) cùng các anh Ngô Văn H1 (sinh năm: 1981 trú tại thôn B, xã N); Mai Văn H2 (sinh năm: 1976 trú tại thôn C, xã N); anh Phạm Văn S (sinh năm: 1979 trú tại thôn B, xã N), là lao động làm theo thời vụ. Cụ thể: Nguyễn Văn T lái máy đào, múc đất, di dời cột bê tông ở lề đường phía tây Quốc lộ A, đồng thời, yêu cầu các công nhân khi làm việc phải đảm bảo an toàn, đặt cảnh báo hai đầu, giăng dây để đảm bảo thông suốt giao thông trên QL10 theo đúng Thỏa thuận thi công số 55/TTh-CQLĐBII ngày 07/4/2022 của Cục Q2, T3. Riêng đối với việc nhổ cột bê tông thì T có nhiệm vụ thực hiện theo quy trình: điều khiển máy đào đất xung quanh chân cột bê tông để lộ đế cột điện, sau đó, sẽ buộc dây cáp chịu lực vào thân cột điện rồi móc vào cần tay thủy lực của máy đào để nhấc cột bê tông lên khỏi mặt đất an toàn. Với phương pháp này, T đã di dời được 04 cột bê tông lên khỏi mặt đất an toàn để thực hiện việc đào rãnh thoát nước.
Đến sáng ngày 17/10/2022, Nguyễn Văn T cùng các anh Ngô Văn H1, Mai Văn H2, Phạm Văn S đến làm việc tại công trình thi công xây dựng hệ thống rãnh thoát nước trên Quốc lộ A đoạn qua thôn B, P, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi công nhân có mặt đầy đủ, ông Bùi Huy T1 đã phân công nhiệm vụ cho công nhân và giao nhiệm vụ cho Nguyễn Văn T lái máy đào, múc đất để di dời cây cột bê tông ở lề đường phía tây Quốc lộ A, đồng thời, yêu cầu các công nhân khi làm việc phải đảm bảo an toàn, đặt cảnh báo hai đầu, giăng dây để đảm bảo thông suốt giao thông trên QL10. Sau đó, anh T1 đi đến chỗ tổ thợ đổ bê tông để giám sát đôn đốc tiến độ thực hiện.
Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn T điều khiển máy đào bánh lốp nhãn hiệu KOBELCO, Biển kiểm soát: 36LA- 0112 đến trước nhà anh Nguyễn Văn Q (sinh năm: 1976 ở thôn B, P, xã N) để đào đất, di dời cột bê tông, lấy mặt bằng lắp đặt hệ thống rãnh thoát nước, còn những công nhân khác đứng bên ngoài phụ giúp, phân luồng, cảnh báo giao thông. Cùng thời điểm này, bà Bùi Thị H (sinh năm: 1953 ở thôn B, P, xã N, huyện N - là mẹ đẻ của anh Q) thấy máy đào đang múc đất, sợ múc lấn vào đất ở của nhà anh Q, nên bà H đứng ở hiên nhà con trai là anh Nguyễn Tiến T2, sinh năm: 1980 ở thôn B, P, xã N, huyện N (bên cạnh nhà anh Q) quan sát. Thấy bà H đứng gần khu vực thi công, T nói bà H đi ra khỏi khu vực thi công nhưng bà H vẫn đứng ở hiên nhà con trai mình quan sát. Khi T điều khiển máy đào múc đất quanh chân cột điện, cách mép hiên nhà anh Nguyễn Tiến T2 0,7m, do không chú ý quan sát phía trước nên T để phần đầu gầu múc va vào phần đế cột bê tông, làm cho cột bê tông bị gãy, đổ xuống mái hiên (lợp bằng bờ rô xi măng) nhà anh T2, đè trúng vào người bà H đang đứng ở dưới, làm cho bà H bị thương tích phải đi điều trị tại các cơ sở y từ ngày 17/10/2022 đến ngày 28/10/2022.
Ngay sau khi nhận được tin báo của Công an xã N nêu trên, Cơ quan CSĐT Công an huyện N phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn cùng các lực lượng chức năng trực tiếp đến hiện trường để tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu thập tài liệu liên quan và tạm giữ 01 máy đào bánh lốp nhãn hiệu KOBELCO, Biển kiểm soát: 36LA- 0112, màu xanh, số máy 6D31-053.092, số khung: YE1-1819 của Công ty Cổ phần X1, do T điều khiển.
Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể bà Bùi Thị H, do Điều tra viên Cơ quan CSĐT Công an huyện N lập lúc 8 giờ 20 phút ngày 17/10/2022 tại Bệnh viện đa khoa huyện N thể hiện:
- Vùng đầu có quấn băng y tế màu trắng, mở băng phát hiện 01 (một) vết thương ở vùng đỉnh phải, rách da chảy máu, kích thước (5x1)cm, bờ nham nhở;
- Ở vùng cánh tay phải được băng nẹp cố định bằng gỗ và băng y tế; vùng cánh tay phải 1/3 trên, sưng nề, biến dạng nhiều, nạn nhân kêu đau;
- Chân phải được cố định bằng gỗ và băng y tế; mặt trước đùi phải có vết xước da, kích thước (7x2)cm, tại vùng vết thương, xưng nề, biến dạngngắn, nạn nhân kêu đau;
- Chân trái được cố định bằng nẹp gỗ và băng y tế (bác sỹ cung cấp: tại vùng cổ chân bị sưng nề biến dạng ngắn, không thể tháo nẹp, băng vì rất khó định hình lại, nạn nhân kêu đau).
Ngày 02/11/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện N ra Quyết định số 112/QĐ-CSĐT, trung cầu trung tâm pháp y tỉnh T giám định, để xác định mức độ tổn hại cơ thể của công dân Bùi Thị H do tai nạn gây nên.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1390/2022/TTPY ngày 09/12/2022 của Trung tâm P kết luận:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Chấn thương vùng cánh tay phải gây tổn thương, gãy 1/3 giữa xương cảnh tay phải; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng:
- + Tổn thương bán phần dây thần kinh trụ phải: 25% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; Bảng 1; chương 1; Mục VII; 3.18).
- + Gãy 1/3 giữa xương cánh tay phải đã được phẫu thuật kết hợp xương cánh tay phải: 15% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; Bảng 1; chương 7; Mục III; 3.1).
- + Sẹo mổ kết hợp xương vùng dọc mặt ngoài cánh tay phải; kích thước sẹo lớn: 03% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; Bảng 1; chương 8; Nguyên tắc tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tổn thương phần mềm; Mục I; 3).
- Chấn thương vùng đùi phải gây tổn thương gãy 1/3 giữa xương đùi phải; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng:
- + Gãy 1/3 giữa xương đùi phải đã được phẫu thuật kết hợp xương đùi phải: 25% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; Bảng 1; chương 7; Mục VII; 10.1).
- + Sẹo mổ kết hợp xương vùng dọc mặt ngoài đùi phải; kích thước sẹo lớn: 03% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; Bảng 1; chương 8; Nguyên tắc tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tổn thương phần mềm; Mục I; 3).
- + Sẹo mổ dẫn lưu sau phẫu thuật kết hợp xương đùi phải vùng 1/3 trên mặt ngoài đùi phải; kích thước sẹo nhỏ: 01% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; Bảng 1; chương 8; Nguyên tắc tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tổn thương phần mềm; Mục I; 1).
- Chấn thương vùng cổ chân trái gây tổn thương đầu dưới xương mác chân trái; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng hình ảnh tổn thương đầu dưới xương mác chân trái, can xương xấu và hạn chế vận động khớp cổ chân trái: 10% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; Bảng 1; chương 7; Mục VIII; 19.3.1).
- Sẹo vết thương và sẹo xử lý vết thương phần mềm vùng đỉnh phải; kích thước sẹo lớn: 03% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; Bảng 1; chương 8; Nguyên tắc tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tổn thương phần mềm; Mục I; 3).
- Vết biến đổi rối loạn sắc tố da vùng 1/3 dưới mặt sau trong cẳng chân trái: 01% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; Bảng 1; chương 8; Mục V).
- Vết biến đổi rối loạn sắc tố da vùng 1/3 dưới mặt trước cẳng chân trái: 01% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; Bảng 1; chương 8; Mục V).
2. Kết luận: Tại thời điểm giám định pháp y về thương tích: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Bùi Thị H được tính theo phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể (Cộng theo phương pháp xác định của Bộ Y) là 62 % (Sáu mươi hai phần trăm).
Sau khi có kết quả giám định thương tích của bà Bùi Thị H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã thông báo cho bị cáo Nguyễn Văn T, người bị hại là bà Bùi Thị H biết và đồng ý với kết quả giám định.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, phù hợp với các chứng cứ và tài liệu đã thu thập được; Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Văn T đã tự nguyện bồi thường cho bà Bùi Thị H số tiền 70.000.000₫ (Bảy mươi triệu đồng). Bà H không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho T.
Về việc thu giữ, tạm giữ đồ vật và xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT đã tạm giữ và trả lại cho Công ty Cổ phần X1 chiếc máy đào bánh lốp, biển kiểm soát 36LA-0112, nhãn hiệu KOBALCO, số khung YE1, số máy: 6D31-053.092. Công ty đã nhận lại và không có ý kiến gì thêm.
Từ những hành vi trên, Cáo trạng số 10/CT-VKSNS ngày 19/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn ở nơi đông người” theo điểm b khoản 1 Điều 295 của BLHS.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX: Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 BLHS để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt của bị cáo được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự nhận được Quyết định thi hành án. Không khấu trừ thu nhập và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của KSV, của bị cáo và những người tham gia tố tụng.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, Điều tra viên cũng như Kiểm sát viên đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ mà pháp luật quy định. Các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố là hợp pháp được chấp nhận để làm cơ sở giải quyết vụ án.
[2] Về tội danh: Nguyễn Văn T là công nhân lái máy đào bánh lốp của Công ty cổ phần X1, có đầy đủ chứng chỉ hành nghề. Buổi sáng ngày 17/10/2022, trước khi thực hiện nhiệm vụ lao động trên công trường, thuộc Quốc lộ A, đoạn đi qua địa phận xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, T đã được anh Bùi Huy T1 là chỉ huy công trường quán triệt và giao nhiệm vụ lái máy đào, múc đất để di dời cây cột bê tông ở lề đường phía Tây quốc lộ 10 theo quy trình lao động để đảm bảo an toàn cho bản thân người lao động và người dân ở khu vực xung quanh. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện lao động tại nơi đông người, do cẩu thả, T đã không chú ý quan sát, để gầu múc đất va vào cây cột bê tông, làm cột bị gãy, đổ vào mái hiên nhà, nơi bà Bùi Thị H đang đứng, đè vào người bà H, gây thương tích 62%. Hành vi của T vi phạm điểm a khoản 2 Điều 6 Luật an toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH 13 ngày 25/6/2015.
Do vậy, bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Vi phạm quy định về an toàn ở nơi đông người” theo điểm b khoản 1 Điều 295 của BLHS. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo là đúng người, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, ý thức được các quy định của pháp luật về an toàn ở nơi đông người.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm nội quy, quy trình, biện pháp về bảo đảm an toàn ở nơi đông người trong quá trình lao động, sản xuất, xâm phạm đến sức khỏe của công dân, gây hậu quả làm bà H bị thương tích 62%, đã vi phạm điểm a khoản 2 Điều 6 Luật an toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH 13 ngày 25/6/2015. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần được xử lý nghiêm theo quy định của Bộ luật hình sự.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS): Bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng TNHS. Bị cáo có những tình tiết giảm nhẹ TNHS: Người phạm tội đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt: Đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét yếu tố nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ TNHS như đã phân tích, HĐXX xét thấy cần lên cho bị cáo mức án tương xứng với vai trò, tính chất, mức độ phạm tội mà bị cáo phạm phải. Bị cáo phạm tội lần đầu với lỗi vô ý, có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng TNHS, có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS, bị cáo có đơn xin cải tạo tại địa phương được chính quyền địa phương xác nhận. Vì vậy, cần xem xét áp dụng Điều 36 BLHS phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo, cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung, đồng thời cũng thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội.
[6] Về hình phạt bổ sung và các biện pháp tư pháp: Bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 295 BLHS và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn T đã tự nguyện bồi thường cho bà Bùi Thị H số tiền 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng), bà H không yêu cầu bồi thường thêm, nên miễn xét.
[8] Về các tình tiết khác có liên quan đến vụ án: Cơ quan CSĐT đã tạm giữ và trả lại cho Công ty Cổ phần X1 chiếc máy đào bánh lốp, biển kiểm soát 36LA-0112, nhãn hiệu KOBALCO, số khung YE1, số máy: 6D31-053.092. Công ty đã nhận lại và không có ý kiến gì thêm, nên miễn xét.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 BLHS.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn ở nơi đông người”.
2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt của bị cáo được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Q, tỉnh Thanh Hóa nhận được Quyết định thi hành án. Miễn khấu trừ thu nhập. Giao bị cáo cho UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục.
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
4. Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 BLTTHS: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niên yết bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Thủy |
Bản án số 11/2024/HSST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về an toàn ở nơi đông người (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 11/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về an toàn ở nơi đông người (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T bị xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội "Vi phạm quy định về an toàn ở nơi đông người" theo quy định tại khoản 1 Điều 295 BLHS
