Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 07/5/2024

“V/v Tranh chấphôn nhân gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Toàn

Các thẩm phán: Bà Lê Thị Thu Huyền

Ông Nguyễn Khắc Chiên

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Long - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 03 và ngày 07 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 38/2023/TLPT-HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXPT - DS ngày 10 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Chị Phạm Thị D, sinh năm 1998.
  • Trú tại: Khu A, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
  • Vắng mặt tại phiên tòa ngày 03/5/2024, có mặt phiên tòa ngày 07/5/2024.
  • Người được nguyên đơn ủy quyền: Công ty L6 và cộng sự - Chi nhánh P1. Đại diện theo ủy quyền:
    1. Ông Phạm Quang L - Luật sư Công ty L6 và cộng sự - Chi nhánh P1. Có mặt phiên tòa ngày 03 và ngày 07/5/2024.
    2. Ông Trần Đức M - Chuyên viên Công ty L6 và cộng sự - Chi nhánh P1. Có mặt phiên tòa ngày 03 và ngày 07/5/2024
    3. Đều có địa chỉ: B, đoạn C9+C10 số 438 đường N, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
  • * Bị đơn: Anh Nguyễn Đức C, sinh năm 1988.
  • Trú tại: Khu A, thị trấn H, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
  • Có mặt phiên tòa ngày 03 và ngày 07/5/2024.
  • * Người làm chứng:
    1. Đoàn Thị Vân L1, sinh năm 1967 và ông Nguyễn Đức K, sinh năm 1958.
  • L1 có mặt phiên tòa ngày 03/5/2024, vắng mặt phiên tòa ngày 07/5/2024, ông K vắng mặt các phiên tòa.
  • 2. Anh Nguyễn Đức D1, sinh năm 1994 và chị Ngô Thị L2, sinh năm 1994.
  • Đều trú tại : Khu A, thị trấn H, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
  • Đều có mặt tại phiên tòa ngày 03/5/2024, vắng mặt phiên tòa ngày 07/5/2024.
  • 3. Ông Đoàn Đức L3, sinh năm 1960 và bà Phạm Thị P, sinh năm 1969.
  • Đều có địa chỉ: Số nhà H, khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
  • Ông L3 vắng mặt các phiên tòa, bà P có mặt phiên tòa ngày 03/5/2024, vắng mặt phiên tòa ngày 07/5/2024.
  • 4. Ông Đoàn Quốc T, sinh năm 1969 và bà Tạ Thị Đ, sinh năm 1974.
  • Đều có địa chỉ: Số nhà A, khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
  • Đều có mặt tại các phiên tòa ngày 03 và ngày 07/5/2024.
  • 5. Ông Phạm Anh T1, sinh năm 1969 và bà Đoàn Thị Lan A, sinh năm 1977.
  • Đều có địa chỉ: Tổ A, phố N, phường Â, T, tỉnh Phú Thọ.
  • Ông T1 vắng mặt các phiên tòa; bà A có mặt phiên tòa ngày 03/5/2024, vắng mặt phiên tòa ngày 07/5/2024.
  • 6. Bà Đỗ Thị H, sinh năm 1958.
  • Địa chỉ: Khu F, thị trấn H, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
  • Có mặt tại phiên tòa ngày 03/5/2024, vắng mặt phiên tòa ngày 07/5/2024
  • 7. Ông Kim Văn N, sinh năm 1961.
  • Địa chỉ: Khu F, thị trấn H, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
  • Vắng mặt các phiên tòa.
  • 8. Ông Phạm Minh Đ1, sinh năm 1969.
  • Địa chỉ: Khu A, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
  • Vắng mặt phiên tòa ngày 03/5/2024, có mặt phiên tòa ngày 07/5/2024.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn là chị Phạm Thị D trình bày:

Chị và anh C tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn năm 2022 tại UBND thị trấn H, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Vợ chồng chung sống hòa thuận được 02 tháng thì phát sinh mâu thuẫn do anh C chơi bời, chị đã khuyên giải rất nhiều lần nhưng anh C không thay đổi, vợ chồng không có tiếng nói chung, lối sống và suy nghĩ không hợp nên cuộc sống chung không hạnh phúc. Gia đình hai bên đều biết chuyện mâu thuẫn của hai vợ chồng nhưng cũng không hàn gắn được mối quan hệ giữa anh chị. Vợ chồng hiện sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Đến nay, xét thấy hôn nhân không đạt được mục đích, mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể hàn gắn, chị xin ly hôn với anh C.

Bị đơn là anh Nguyễn Đức C trình bày:

Anh xác nhận về thời gian kết hôn và quá trình chung sống như chị D trình bày là đúng. Trong cuộc sống vợ chồng anh xảy ra nhiều mâu thuẫn do hai bên không có tiếng nói chung, cuộc sống không hạnh phúc, gia đình chị D can thiệp quá sâu vào đời sống riêng tư của vợ chồng. Anh chị đã sống ly thân nhiều tháng nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị D xin ly hôn, anh nhất trí vì xác định không còn tình cảm.

+ Về con chung: Anh chị xác nhận không có con chung.

+ Về tài sản chung:

Ý kiến anh C : Anh C đề nghị Tòa án phân chia tài sản chung của hai vợ chồng là 4,3 cây vàng, hiện chị D đang giữ. Đây là vàng vợ chồng anh được gia đình hai bên trao tặng ngày cưới. Anh đề nghị chia số vàng này, buộc chị D phải trả lại 2,5 cây vàng cho anh. Tại phiên tòa, anh xác định 2,5 cây vàng gia đình anh trao hôm đó là trao cho riêng anh nên chị D phải trả lại cho anh.

Ý kiến chị D: Chị không thừa nhận đang giữ 4,3 cây vàng như anh C kê khai nên chị không nhất trí trả như anh C yêu cầu. Chị D xác nhận được gia đình hai bên cho vàng ngày cưới nhưng không xác định cụ thể trọng lượng là bao nhiêu. Số vàng phía gia đình nhà chị cho, có 1 số là trang sức chị đã đeo từ trước thì chị vẫn sử dụng, còn lại được cất cùng với số vàng nhà anh C cho vào két để ở phòng khách của gia đình. Chiếc két này là két cũ do bà Đoàn Thị Vân L1 (mẹ đẻ anh C) thuê người mang từ xưởng về nhà. Mã khóa két trong nhà ai cũng biết. Bà L1 đưa cho chị 2 chìa khóa két và chị để tại bàn trang điểm trong phòng ngủ vợ chồng (phòng không khóa). Quá trình sinh sống, chị có bán 1 số vàng là trang sức trên người để chi tiêu vào việc khám chữa bệnh, còn lại số vàng trong két chị không biết và không được sử dụng. Chị không cầm vàng nên không nhất trí trả như anh C yêu cầu.

Chị D và anh C đều xác định chuyến đi chơi Hàn Quốc do cơ quan anh chị tổ chức, tài trợ. Vợ chồng có chi tiêu khoảng 18.000.000đ (Mười tám triệu đồng). Tiền này do anh C đưa cho chị D (nguồn gốc số tiền này do đâu có chị D cũng không biết).

Quá trình giải quyết, Tòa án đã lấy lời khai của bà Đoàn Thị Vân L1. Bà L1 xác định hai bên gia đình cho vợ chồng anh chị Cảnh Duyên 4,3 cây vàng. Thời gian đầu bà giữ hộ, sau đó có trả lại để anh chị cất vào két (chiếc két này được bà lấy từ công ty của gia đình bà về, không phải mua mới). Thời gian sống chung, bà có biết việc anh chị đi du lịch nước ngoài, đi chơi nhiều nơi, đi khám chữa bệnh... tuy nhiên cụ thể anh chị chi tiêu như thế nào gia đình bà không nắm rõ. Nay anh chị không còn là vợ chồng, bà cũng mong muốn chị D trả lại cho gia đình bà 2,5 cây vàng như anh C đã trình bày. Gia đình bà chỉ có các hóa đơn mua vàng chứ cũng không có tài liệu nào khác liên quan đến vàng của anh chị. Quan điểm của bà giống của anh C nên bà không có đơn đề nghị giải quyết riêng.

Bố đẻ chị D là ông Phạm Minh Đ1 xác nhận việc hai bên gia đình có cho vợ chồng anh chị vàng làm kỷ niệm. Tuy nhiên, gia đình ông đều không biết anh chị được cho tổng bao nhiêu vàng, anh chị chưa khi nào nói chuyện về vấn đề kinh tế với gia đình. Khi vợ chồng xảy ra va chạm, ông đã đến đón và đưa trực tiếp chị D về nhà ở xã C, huyện Đ để sinh sống. Gia đình ông không nhìn thấy hay nghe chị D nhắc gì đến chuyện cầm vàng của vợ chồng. Việc cho anh chị, chi tiêu như thế nào là quyền riêng tư của anh chị, gia đình không ai can thiệp và cũng không có ý kiến gì. Số vàng gia đình ông đã cho anh chị, ông cũng không đề nghị gì.

Quá trình chuẩn bị xét xử, bà L1 cung cấp 1 số tài liệu chứng cứ xác định việc cho vàng của vợ chồng bà, vợ chồng anh Nguyễn Đức D1, chị Ngô Thị L2, ông Đoàn Quốc T, bà Đoàn Thị Lan A, vợ chồng ông Đoàn Đức L3, bà Phạm Thị P (đều là anh em bên nội). Tất cả đều xác nhận việc cho anh C và chị D vàng trong ngày cưới.

+ Về vay nợ chung, công sức: Hai bên không có và không đề nghị gì

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 58/2023/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Toà án Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa đã:

  • - Căn cứ vào Điều 55, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình;
  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1,4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
    1. 1- Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị D và anh Nguyễn Đức C
    2. 2- Về con chung: Không có
    3. 3- Về tài sản chung : Không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Nguyễn Đức C về yêu cầu chia tài sản chung.
    4. 4- Về vay nợ chung và công sức đóng góp: Không giải quyết
  • Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 02 tháng 10 năm 2023, anh Nguyễn Đức C có đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm số 58 ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ. Đề nghị Toà án tỉnh Phú Thọ xét xử về việc chị D cầm 4,3 cây vàng phải có nghĩa vụ trả lại cho anh số vàng mà anh đưa cho chị D sau khi cưới. Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, anh C có đơn triệu tập người làm chứng đã tặng vàng cho anh C và chị D trong ngày tổ chức kết hôn tại gia đình nhà anh C, kèm theo USB có nội dung những người trao vàng trong ngày tổ chức kết hôn cho anh và chị D, 01 giấy báo nợ và 01 giấy số phụ tài khoản của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ2 chi nhánh Đ3. Cấp phúc thẩm đã ủy thác cho Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa tiến hành định giá số vàng tranh chấp. Tại biên bản định

giá ngày 27/02/2024 của Hội đồng định giá huyện H xác định 01 chỉ vàng ta 9999 có giá 6.350.000đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, anh C trình bày khi vợ chồng làm lễ kết hôn, vợ chồng được hai bên gia đình tặng cho 4,3 cây vàng ta 9999.

Trong đó phía gia đình anh tặng cho vợ chồng khi làm lễ kết hôn tại gia đình anh C gồm:

  1. Bố mẹ anh CĐoàn Thị Vân L1 và ông Nguyễn Đức K tặng 01 cây vàng. Trong đó 01 kiềng 5 chỉ vàng 9999, 01 lắc tay 03 chỉ vàng 9999 trao cho chị D; 01 nhẫn 02 chỉ vàng 9999 trao cho anh C.
  2. Anh Nguyễn Đức D1 và chị Ngô Thị L2 là vợ chồng em trai anh C 1,2 cây vàng. Trong đó 01 kiềng 05 chỉ vàng 9999, 01 nhẫn 02 chỉ vàng 9999 trao cho chị D; 01 vòng tay 03 chỉ vàng 9999 và 01 nhẫn vàng 9999 trao cho anh C.
  3. Ông Đoàn Đức L3 và bà Phạm Thị P trao cho anh C 01 chỉ vàng 9999.
  4. Ông Đoàn Quốc T và bà Tạ Thị Đông t cho anh C 01 chỉ vàng 9999.
  5. Ông Phạm Anh T1 và bà Đoàn Thị Lan A trao cho anh C 01 chỉ vàng 9999.

Tổng cộng 2,5 cây vàng 9999.

Gia đình chị D tặng khi đón dâu tại gia đình chị D gồm:

Ông Đ1 là bố chị D trao cho chị D 01 kiềng 05 chỉ vàng 9999; trao cho anh C 01 nhẫn 03 chỉ vàng 9999; mẹ chị D trao cho chị D 01 kiềng 05 chỉ vàng 9999; em trai chị D tên là Lâm trao cho chị D 01 chỉ vàng 9999; bạn của chị D, anh C không biết tên và địa chỉ trao cho chị D 01 nhẫn vàng 9999.

Tổng cộng 1,8 cây vàng 9999.

Khi trao tặng, gia đình chị D cũng quay video những người tặng vàng cho anh và chị D, anh không cung cấp video này được vì gia đình chị D giữ.

Ngoài ra trước khi tổ chức cưới, anh có 01 nhẫn kim cương, chị D có 01 nhẫn kim cương.

Sau khi tổ chức lễ cưới, buổi chiều anh và chị D kiểm đếm được 4,3 cây vàng. Vợ chồng đã gửi bà L1 là mẹ đẻ anh C cất vào trong két sắt của bà L1, khoảng 01 tháng sau chị D bảo mua két sắt để vợ chồng cất giữ riêng, mẹ anh C đã lấy két sắt ở xưởng của gia đình đem két sắt về giao chìa khóa và toàn bộ 4,3 cây vàng cùng 02 nhẫn kim cương cho chị D, chị D để vàng và nhẫn kim cương trong két sắt, chìa khóa két chị D giữ. Khi chị D bỏ về nhà bố mẹ đẻ chị D, chị D đã cầm 4,3 cây vàng và 02 nhẫn kim cương này. Trước khi chị D làm đơn xin ly hôn với anh C, anh C đã nhắn tin cho chị D về số vàng này.

Anh C xác nhận trong thời gian anh và chị D chung sống, chị D có đi khám bệnh 02 lần, một lần hết 11 triệu đồng, 01 lần hết 6 triệu đồng là do chị D trả tiền. Anh và chị D có đi du lịch tại Hàn Quốc được Ngân hàng B chọn gói nhưng anh có chuyển khoản 18 triệu đồng trong tài khoản của anh C cho công ty

D3 để vợ chồng chi tiêu thêm. Theo anh C về số tiền chị D đi khám bệnh là tiền lương của chị D, vì anh C và chị D đều làm ở Ngân hàng, anh C có mức lương trung bình 260 triệu đồng/1 năm, chị D có mức lương trung bình 240 triệu đồng/1 năm

Tại phiên tòa hôm nay, anh C đề nghị do chị D không có mặt nên anh không thể đối chứng được nhưng tại biên bản hòa giải ngày 12/6/2023 ở Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, chị D thừa nhận phía gia đình chị D có trao tặng hơn 1 cây vàng nên anh chỉ tính phía gia đình chị D tặng 1 cây vàng. Như vậy chị D cầm 3,5 cây vàng và 02 nhẫn kim cương. Nay anh đề nghị 3,5 cây vàng này là tài sản chung của vợ chồng, anh C đề nghị chị chia đôi và chị D phải trả lại cho anh 1,75 cây vàng và yêu cầu chị D trả lại cho anh 01 nhẫn kim cương.

Phía đại diện theo ủy quyền của chị D

có quan điểm khi chị D và anh C tổ chức cưới hai bên gia đình có tặng vàng nhưng không biết số lượng cụ thể. Khi chị D bỏ về nhà bố mẹ đẻ số vàng để trong két sắt ở nhà anh C, chìa khóa két để trên mặt két sắt, chị D không đem vàng đi.

Chị D làm ở Ngân hàng thu nhập từ 220 triệu đến 240 triệu đồng/1 năm.

Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của anh C, giữ nguyên Bản án của cấp sơ thẩm.

Phía bà L1 trình bày (BL84):

Ngày 10/3/2023 gia đình ông bà cưới vợ cho cháu C và cháu D, trong ngày tổ chức cưới, vợ chồng ông bà có trao quà cho anh C và chị D 01 cây vàng trong đó 01 kiềng 5 chỉ vàng 9999, 01 lắc tay 03 chỉ vàng 9999 trao cho chị D; 01 nhẫn 02 chỉ vàng 9999 trao cho anh C. Tại Tòa án huyện H, bà L1 khai trao tặng cho anh C và chị D 01 cây vàng gồm 01 kiềng vàng cổ 5 chỉ, 01 lắc đeo tay 5 chỉ. Nay bà xác định do lúc đó do bức xúc nên không nhớ và khai như vậy, thực tế gia đình bà trao tặng vàng cho anh C và chị D như khai tại phiên tòa hôm nay.

Sau khi tổ chức cưới, anh C và chị D kiểm đếm số vàng hai gia đình tặng cho vợ chồng anh chị là 4,3 cây vàng, anh chị có nhờ bà cất vào két sắt của gia đình, sau khoảng một tháng chị D bảo mua két sắt để anh chị quản lý và cất riêng. Bà đã lấy chiếc két sát ở xưởng của gia đình bà mang về và bà đưa toàn bộ 4,3 cây vàng và chìa khóa két sắt cho chị D cất giữ. Khi chị D bỏ về nhà bố mẹ đẻ, gia đình bà yêu cầu chị D trả lại chìa khóa két nhưng chị D không trả, anh C phải thuê thợ để phá két sắt nhưng trong két sắt không có vàng, chị D đã lấy hết số vàng trong két.

L1 xác nhận trong thời gian cháu DC chung sống với nhau, cháu D có 02 lần đi khám bệnh về phụ khoa hết 17 triệu đồng, còn khoản tiền này như thế nào bà không biết.

Số vàng gia đình bà trao tặng cho cháu C và cháu D, quan điểm của gia đình bà đã tặng cho các cháu là của các cháu, gia đình không đòi lại. Nhưng cháu D phải trả lại cho cháu C 2,5 cây vàng mà phía gia đình nhà trai đã tặng.

Phía vợ chồng anh Nguyễn Đức D1 và chị Ngô Thị L2 trình bày (BL 89):

Anh D1 là em trai ruật của anh C, chị L2 là em dâu của anh C. Ngày 10/3/2023 là ngày tổ chức cưới của anh C và chị D, vợ chồng anh D1 chị L2 có trao vàng làm quà tặng cho anh C chị D 01 kiềng cổ 3 chỉ vàng 9999, 01 vòng si 3 chỉ vàng 9999, 01 lắc tay 4 chỉ vàng 9999, 02 nhẫn tròn 2 chỉ vàng 9999. Số vàng này đã tặng cho anh C và chị D, quan điểm của anh D1 chị L2 đã tặng cho anh C chị D nên không đòi lại, nhưng đề nghị chị D phải trả lại cho anh C 2,5 cây vàng mà anh D1 chị L2 đã tặng.

Phía bà Phạm Thị P trình bày (BL 54):

Ông L3 là bác ruột của anh C, bà P là vợ của ông L3. Ngày 10/3/2023 là ngày cháu C và cháu D tổ chức lễ thành hôn, vợ chồng bà có trao quà cưới cho hai cháu 01 chỉ vàng 9999.

Nay các cháu ly hôn, gia đình bà P không đề nghị lấy lại nhưng đề nghị chị D phải trả lại cho anh C 01 chỉ vàng 9999 mà gia đình bà đã tặng.

Phía vợ chồng ông Đoàn Quốc T và bà Tạ Thị Đ trình bày (BL 57):

Ông T là cậu ruột của anh C, ngày 10/3/2023 ông T và bà Đ có trao tặng cho cháu C và cháu D 01 chỉ vàng 9999.

Nay các cháu ly hôn, gia đình ông TL3 không đề nghị lấy lại nhưng đề nghị chị D phải trả lại cho anh C 01 chỉ vàng 9999 mà gia đình ông bà đã tặng.

Phía bà Đoàn Thị Lan A trình bày (BL 59):

A là dì ruột của anh C, ngày 10/3/2023 bà và chồng là ông Phạm Anh T1 và có trao tặng cho cháu C và cháu D 01 chỉ vàng 9999.

Nay các cháu ly hôn, gia đình ông T1L2 không đề nghị lấy lại nhưng đề nghị chị D phải trả lại cho anh C 01 chỉ vàng 9999 mà gia đình ông bà đã tặng.

Phía bà Đỗ Thị H trình bày:

Bà là người chứng kiến việc gia đình anh C nhờ thợ đến phá khóa két sắt, khi phá được khóa két sắt thì trong két sắt không có tài sản gì.

Tại phiên tòa ngày 03/5/2024, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ

phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân theo Bộ luật tố tụng dân sự.

Phát biểu về quan điểm nội dung vụ án: Chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Đức C.

Áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Sửa một phần Bản án sơ thẩm số 58/2023/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ.

Căn cứ vào biên bản hòa giải giữa chị D và anh C ngày 12/6/2023.

Gia đình nhà anh C tặng anh C và chị D 2,5 cây vàng 9999, gia đình chị D tặng chị D và anh C 1 cây vàng 9999.

Do hai gia đình anh C và chị D tặng cho anh C và chị D 3,5 cây vàng 9999, do vậy đây là tài sản chung của anh C và chị D nên chia đôi số vàng trên mỗi người một nửa.

Xác nhận chị D đang quản lý 3,5 cây vàng ta 9999.

Chị D có trách nhiệm thanh toán cho anh C trị giá 1,75 cây vàng 9999.

Về án phí chia tài sản: Anh C và chị D phải chịu theo quy định của pháp luật.

Về án phí phúc thẩm: Anh C không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Tại phiên tòa ngày 07/5/2024, phía chị D trình bày: Khi tổ chức lễ cưới gia đình nhà trai đến đón dâu, bố mẹ chị tặng 01 vòng cổ bằng vàng, 01 vòng tay bằng vàng, 01 nhẫn bằng vàng; em trai là Phạm Đức L4 tặng 01 nhẫn vàng; bạn chị tặng 01 nhẫn vàng.

Gia đình nhà anh C tặng khi làm lễ thành hôn: Bố mẹ anh C có tặng vòng cổ, vòng tay, nhẫn. Mẹ anh C trực tiếp đeo vòng cổ cho chị; vợ chồng em trai anh CD1L2 trao vòng cổ, vòng tay, nhẫn; một vài cô chú có tặng nhẫn vàng. Sau khi cưới chị và anh C có đếm được 6 đến 7 cái nhẫn, 03 đến 4 cái vòng cổ, 2 đến 3 cái vòng tay. Chị và anh C đưa cho bà L1 là mẹ anh C cất giữ vào két của gia đình bà L1, sau khoảng gần một tháng chị D có yêu cầu mua két sắt để đựng riêng số vàng này, bà L1 mang két sắt ở xưởng của gia đình bà L1 về khoảng 15 ngày, bà L1 đưa hộp đựng đồ cho chị và tài sản của hai đứa tự bảo quản, chị không kiểm đếm số vàng mà cho vào trong két luôn, chìa khóa để ở bàn phòng ngủ của chị, sau đó chị có sử dụng số trang sức mà chị đeo trên người như vòng cổ, vòng tay, nhẫn khoảng 3 đến 4 chỉ vàng đem bán mua quà sinh nhật cho mẹ chồng không biết bao nhiêu tiền, chị đi khám bệnh ở Hà Nội hết 17 đến 18 triệu đồng, đi khám bệnh ở Yên Bái 02 lần hết 09 triệu đồng, khi cơ quan tổ chức cho chị và anh C đi du lịch tại Hàn Quốc mặc dù được bao trọn gói nhưng chị và anh C chi phí hết 18 triệu đồng do anh C bỏ ra, chị không biết nguồn tiền ở đâu. Khi chị bỏ về nhà bố mẹ đẻ, anh C có gọi điện và nhắn tin cho chị trả chìa khóa két và số vàng trong két nhưng chị không cầm đi. Chị không nhất trí theo đơn kháng cáo của anh C và đề nghị giữ nguyên bản án của cấp sơ thẩm.

Ông Phạm Minh Đ1 là bố đẻ chị D trình bày: Khi nhà trai sang đón dâu, gia đình ông tặng cho anh C chị D 01 vòng cổ bằng vàng, 01 vòng tay bằng vàng, nhẫn vàng khoảng từ 1,5 cây đến 1,6 cây vàng; gia đình ông mua cho con trai ông 0 nhẫn vàng 02 chỉ để cháu tặng cho chị D. Tổng gia đình tặng khoảng 1,7 đến 1,8 cây vàng. Gia đình anh C có tặng cho các cháu vòng vàng, dây chuyền vàng, nhẫn vàng, cụ thể bao nhiêu ông không biết. Quan điểm của gia đình ông đã tặng cho các cháu là của các các cháu, gia đình không đòi lại.

Tại phiên tòa ngày 07/5/2024 anh C có qua điểm, do phiên tòa ngày 03/5/2024 chị D và ông Đ1 vắng mặt, căn cứ vào lời khai của chị D ở cấp sơ thẩm trình bầy gia đình chị có tặng hơn một cây vàng. Tại phiên tòa hôm nay chị D và ông

Đ1 là bố đẻ chị D đều thừa nhận gia đình chị D tặng 1,8 cây vàng, tổng số vàng anh và chị D được tặng 4,3 cây vàng, số vàng này là tài sản chung của anh và chị D, do chị D cầm số vàng này nên anh đề nghị chia đôi, chị D phải trả lại cho anh một nửa số vàng trên.

Tại phiên tòa ngày 07/5/2024, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ có quan điểm bổ sung, do chị D và ông Đ1 là bố đẻ chị D đều thừa nhận gia đình chị D tặng cho chị D và anh C 1,8 cây vàng nên xác nhận chị D và anh C có tổng là 4,3 cây vàng, chị D đã bán 04 chỉ vàng, số vàng còn lại 3,9 cây vàng chia đôi mỗi người 1/2. Do chị D đang quản lý số vàng trên nên chị D phải thanh toán trị giá tài sản chung cho anh C tương ứng với 1,95 cây vàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở ý kiến trình bày của các bên đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng: Về hình thức đơn kháng cáo của anh Nguyễn Đức C làm trong luật định, đơn hợp lệ được xem xét giải quyết.

Tại cấp phúc thẩm, anh Nguyễn Đức c có đơn đề nghị đưa người làm chứng tham gia tố tụng, do vậy cấp phúc thẩm đưa bà Đoàn Thị Vân L1 và ông Nguyễn Đức K, anh Nguyễn Đức D1 và chị Ngô Thị L2, ông Đoàn Đức L3 và bà Phạm Thị P, ông Đoàn Quốc T và bà Tạ Thị Đ, bà Đoàn Thị Lan A và ông Phạm Anh T1, ông Phạm Minh Đ1 là những người trao vàng cho anh C và chị D ngày lễ thành hôn của anh cảnh, chị D; bà Đỗ Thị H là người chứng kiến việc ông Kim Văn N phát khóa két sắt tham gia tố tụng.

Về sự vắng mặt của đương sự:

Tại phiên tòa ngày 03/5/2024, nguyên đơn là chị Phạm Thị D vắng mặt nhưng có mặt người đại diện theo ủy quyền của Công ty L6 và cộng sự-Chi nhánh P1; người làm chứng là ông Nguyễn Đức K vắng mặt nhưng có bà Đoàn Thị Vân L1 có mặt, ông Đoàn Đức L3 vắng mặt nhưng có bà Phạm Thị P có mặt, ông Phạm Anh T1 vắng mặt nhưng có bà Đoàn Thị Lan A có mặt; ông Kim Văn N và ông Phạm Minh Đ1 vắng mặt. Các bên đương sự và đại diện Viện kiểm sát đề nghị xét xử vắng mặt những người này. Do vậy Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa ngày 07/5/2024 nguyên đơn là chị Phạm Thị D và người đại diện theo ủy quyền của Công ty L6 và cộng sự-Chi nhánh P1; anh Nguyễn Đức C là bị đơn, ông Phạm Minh Đ1 là người làm chứng đều có mặt; ông Nguyễn Đức K và bà Đoàn Thị Vân L1, ông Đoàn Đức L3, bà Phạm Thị P, ông Phạm Anh T1Đoàn Thị Lan A; ông Kim Văn N và bà Đỗ Thị H đều vắng mặt. Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử.

[2] Xét về nội dung kháng cáo của anh Nguyễn Đức C, Hội đồng xét xử nhận thấy, khi chị D và anh C tổ chức kết hôn, anh C và chị D đều thừa nhận hại bên gia đình trao tặng vàng cho anh C, chị D. Theo anh C xác định tổng số vàng được tặng cho là 4,3 cây vàng 9999. Trong đó gia đình anh C trao tặng 2,5 cây vàng 9999, phía gia đình chị D trao tặng 1,8 cây vàng 9999, nhưng tại cấp sơ thẩm chị D cho rằng hai bên gia đình có trao tặng vàng ngày cưới, chị không xác định được trọng lượng cụ thể, nhưng theo Biên bản hòa giải ngày 12/6/2023 chị D xác nhận nhà ngoại cho hơn 1 cây vàng, còn nhà nội cho bao nhiêu chị không biết. Tại phiên tòa phúc thẩm chị D và ông Đ1 là bố đẻ chị D đều xác nhận gia đình chị D có tặng cho chị D và anh C 1,8 cây vàng, phía gia đình anh C có tặng vòng cổ, vòng tay và nhẫn vàng nhưng chị D không xác định được trọng lượng. Căn cứ vào đoạn chiếc USB anh C cung cấp có chứa nội dung video do gia đình nhà anh C gồm bố mẹ anh CL1 và ông K, anh D1 và chị L2 là vợ chồng em trai anh C, ông L3 và bà P là bác của anh C, ông Đoàn Quốc T và bà Đ, ông Phạm Anh T1 và bà A là gì của anh C là những người trao tặng vàng cho anh C và chị D, mặt khác tại phiên tòa những người này khai và cung cấp các hóa đơn mua vàng phù hợp với lời khai của anh C. Như vậy xác định gia đình anh C tặng cho anh C và chị D 2,5 cây vàng, gia đình chị D tặng cho chị D và anh C 1,8 cây vàng. Tổng cộng 4,3 cây vàng là có căn cứ.

Việc chị D cho rằng số vàng hai bên gia đình tặng cho chị D và anh C đã gửi bà L1 là mẹ anh C cất giữ, sau khi chị D và anh C có két sắt riêng, chị D để vàng trong két sắt, chìa khóa két để ở trên mặt két sắt và để ở mặt bàn trong phòng ngủ của chị D và anh C, khi vợ chồng mâu thuẫn chị D bỏ về bố mẹ đẻ ở, chị không mang số vàng này đi, nhưng có căn cứ xác định việc chị D xin được sử dụng két sắt riêng để chị D và anh C cất số vàng có trị giá lớn như vậy thì không thể nói chìa khóa để trên mặt bàn két sắt và trong phòng ngủ ai mở cũng được. Khi chị D bỏ về nhà bố mẹ đẻ, anh C đã gọi điện và nhắn tin cho chị D trả lại chìa khóa két sắt nhưng chị D trả lời không cầm, gia đình anh C đã nhờ người phá khóa két sắt nhưng không còn vàng trong két, anh C có nhắn tin cho chị D thể hiện qua tờ in sao bản tin nhắn liên quan đến 4,3 cây vàng này. Mặt khác tại Biên bản hoà giải ngày 12/6/2023 của TAND huyện Hạ Hoà thể hiện khi anh C đề nghị chị D phải trả lại 2,5 cây vàng mà gia đình anh C đã tặng. Chị D cho rằng vợ chồng đã sử dụng toàn bộ số vàng đó vào việc ăn tiêu, khám chữa bệnh đến nay không còn, việc sử dụng này cả hai vợ chồng đều chi và đều thống nhất, ngoài ra chị còn trình bày phía gia đình chị có tặng cho hơn một cây vàng nhưng chị cũng bán để ăn tiêu và sử dụng chữa bệnh nhưng sau buổi hoà giải trên chị đều phủ nhận không cầm số vàng trên như vậy chị D khai không thật tâm. Mặt khác, khi chị D có đơn khởi kiện xin ly hôn anh C, chị không yêu cầu giải quyết về số vàng này, khi anh C có đơn đề nghị yêu cầu giải quyết về số vàng nhưng chị D lại cho rằng số vàng này chị không cầm đi, trong đó bao gồm

cả số vàng của gia đình chị tặng cho mà chị D lại không yêu cầu giải quyết. Tại phiên tòa phúc thẩm chị D xác nhận có bán vòng cổ, vòng tay và nhẫn khoảng 3 đến 4 chỉ vàng mà gia đình chị đã tặng để lấy tiền mua quà sinh nhật cho mẹ chồng, đi khám chữa bệnh cho chị. Mặt khác, đối với số tiền 18 triệu đồng anh C và chị D đi du lịch Hàn Quốc, anh C cung cấp chứng cứ anh C đã chuyển khoản tiền này từ tài khoản của anh C thông qua Ngân hàng TMCP Đ2. Do vậy, cần xác định chị D anh C được hai gia đình tặng cho 4,3 cây vàng, chị D đã bán 04 chỉ vàng, số vàng còn lại số vàng còn lại 3,9 cây vàng chị D không chứng minh được đã bán số vàng trên để chi tiêu chung vào việc gia đình, tại phiên tòa phúc thẩm những người trao tặng vàng cho anh C và chị D đều xác nhận đã tặng cho và không đòi lại, anh C xác nhận đây là tài sản chung của anh C và chị D. Do vậy, cần buộc chị D phải trả lại cho anh C 1/2 số vàng trên cho anh C có giá 1 chỉ vàng ta 9999 = 6.350.000₫ x 19,5 cây = 123.828.0000đồng là phù hợp.

Từ những căn cứ trên cần chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Đức C và sửa phần Quyết định của bản án sơ thẩm về phần tài sản.

Tại phiên tòa phúc thẩm, anh C trình bày khi cưới anh C và chị D mỗi người có 01 nhẫn vàng kim cương, chị D về nhà bố mẹ đẻ đem theo 02 nhẫn kim cương này, anh C đề nghị giải quyết. Xét thấy tại cấp sơ thẩm và tại đơn kháng cáo anh C không yêu cầu giải quyết, đây là yêu cầu vượt quá phạm vi kháng cáo nên cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí chia tài sản: Do cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm và chia tài sản cho anh C và chị D, nên án phí chia tài sản được tính lại theo kỷ phần được chia theo quy định của pháp luật.

[4] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của anh C được chấp nhận nên không phải chịu án phí phúc thẩm.

[5] Về quan điểm việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.

[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự.

[I] Xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của anh Nguyễn Đức C.

[II] Sửa một phần Bản án sơ thẩm số 58/2023/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Toà án Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ về phần tài sản chung.

Căn cứ vào Điều 55, Điều 57, Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a, b khoản 5 Điều 27; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị D và anh Nguyễn Đức C
  2. Về con chung: Không có
  3. Về tài sản chung: Xác nhận chị Phạm Thị D và anh Nguyễn Đức C có tài sản chung là 3,9 (ba phẩy chín) cây vàng ta 9999 x 6.350.000đồng = 247.650.000đồng (hai trăm bốn mươi bảy triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng).

Buộc chị Phạm Thị D phải thanh toán trênh lệch tài sản cho anh Nguyễn Đức C 1,95 (một phảy chín mươi lăm) cây vàng ta 9999 có trị giá 123.825.000đồng (một trăm hai mươi ba triệu tám trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành án xong.

  1. Về vay nợ chung và công sức đóng góp: Không giải quyết
  2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Chị Phạm Thị D phải nộp 75.000đồng (bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và 6.191.000đồng (sáu triệu một trăm chín mươi mốt nghìn đồng) án phí chia tài sản. Tổng cộng 6.266.000đồng (sáu triệu hai trăm sáu mươi sáu nghìn đồng). Xác nhận chị D đã nộp 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2020/0005328 ngày 12/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ. Chị D còn phải nộp 5.966.000đồng (năm triệu chín trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).

Anh Nguyễn Đức C Phải nộp 75.000đ (bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và 6.191.000đồng (sáu triệu một trăm chín mươi mốt nghìn đồng) án phí chia tài sản. Tổng cộng 6.266.000đồng (sáu triệu hai trăm sáu mươi sáu nghìn đồng). Xác nhận anh C đã nộp đã nộp 6.500.000đồng (sáu triệu năm trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2020/0005329 ngày 12/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ. Hoàn trả lại cho anh C 274.000đồng (hai trăm bảy mươi tư nghìn đồng).

[6]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Nguyễn Đức C không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại cho anh C 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2020/0005404 ngày 03/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

- Đương sự;

- VKSND tỉnh Phú Thọ;

- VKSND huyện Hạ Hòa;

- Chi cục THADS huyện Hạ Hòa;

- Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu văn phòng.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Văn Toàn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẠ HÒA

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 58/2023/HNGĐ-ST

Ngày 29 - 9 - 2023

V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Mai L5

Các hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Hóa

Ông Lữ Mạnh T2

Thư ký phiên tòa:Bà Phí Lê D2– Thư ký Toà án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Hòa tham gia phiên tòa: Bà Đinh Phương M1 - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 180/2023/TLST-HNGĐ ngày 12/06/2023 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 05/09/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2023/QÐST-HNGĐ ngày 15/9/2023 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Phạm Thị D - sinh năm 1998
  • Trú tại: Khu A, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Đức C – sinh năm 1988

Trú tại: Khu A, thị trấn H, huyện H, tỉnh Phú Thọ

-Người làm chứng : Bà Đoàn Thị Vân L1 – sinh năm 1967

Trú tại : Khu A, thị trấn H, huyện H, tỉnh Phú Thọ

(Các đương sự đều có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn là chị Phạm Thị D trình bày:

Chị và anh C tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn năm 2022 tại UBND thị trấn H, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Vợ chồng chung sống hòa thuận được 02 tháng thì phát sinh mâu thuẫn do anh C chơi bời, chị đã khuyên giải rất nhiều lần nhưng anh C không thay đổi, vợ chồng không có tiếng nói chung, lối sống và suy nghĩ không hợp nên cuộc sống chung không hạnh phúc. Gia đình hai bên đều biết chuyện mâu thuẫn của hai vợ chồng nhưng cũng không hàn gắn được mối quan hệ giữa anh chị. Vợ chồng hiện sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Đến nay, xét thấy hôn nhân không đạt được mục đích, mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể hàn gắn, chị xin ly hôn với anh C.

Bị đơn là anh Nguyễn Đức C trình bày :

Anh xác nhận về thời gian kết hôn và quá trình chung sống như chị D trình bày là đúng. Trong cuộc sống vợ chồng anh sảy ra nhiều mâu thuẫn do hai bên không có tiếng nói chung, cuộc sống không hạnh phúc, gia đình chị D can thiệp quá sâu vào đời sống riêng tư của vợ chồng. Anh chị đã sống ly thân nhiều tháng nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị D xin ly hôn, anh nhất trí vì xác định không còn tình cảm.

+ Về con chung: Anh chị xác nhận không có con chung.

+ Về tài sản chung:

Ý kiến anh C : Anh C đề nghị Tòa án phân chia tài sản chung của hai vợ chồng là 4,3 cây vàng, hiện chị D đang giữ. Đây là vàng vợ chồng anh được gia đình hai bên trao tặng ngày cưới. Anh đề nghị chia số vàng này, buộc chị D phải trả lại 2,5 cây vàng cho anh. Tại phiên tòa, anh xác định 2,5 cây vàng gia đình anh trao hôm đó là trao cho riêng anh nên chị D phải trả lại cho anh.

Ý kiến chị D: Chị không thừa nhận đang giữ 4,3 cây vàng như anh C kê khai nên chị không nhất trí trả như anh C yêu cầu. Chị D xác nhận được gia đình hai bên cho vàng ngày cưới nhưng không xác định cụ thể trọng lượng là bao nhiêu. Số vàng phía gia đình nhà chị cho, có 1 số là trang sức chị đã đeo từ trước thì chị vẫn sử dụng, còn lại được cất cùng với số vàng nhà anh C cho vào két để ở phòng khách của gia đình. Chiếc két này là két cũ do bà Đoàn Thị Vân L1 (mẹ đẻ anh C) thuê người mang từ xưởng về nhà. Mã khóa két trong nhà ai cũng biết. Bà L1 đưa cho chị 2 chìa khóa két và chị để tại bàn trang điểm trong phòng ngủ vợ chồng (Phòng không khóa). Quá trình sinh sống, chị có bán 1 số vàng là trang sức trên người để chi tiêu vào việc khám chữa bệnh, còn lại số vàng trong két chị không biết và không được sử dụng. Chị không cầm vàng nên không nhất trí trả như anh C yêu cầu.

Chị D và anh C đều xác định chuyến đi chơi Hàn Quốc do cơ quan anh chị tổ chức, tài trợ. Vợ chồng có chi tiêu khoảng 18.000.000₫ (Mười tám triệu đồng). Tiền này do anh C đưa cho chị D (Nguồn gốc số tiền này do đâu có chị D cũng không biết).

Quá trình giải quyết, Tòa án đã lấy lời khai của bà Đoàn Thị Vân L1. Bà L1 xác định hai bên gia đình cho vợ chồng anh chị Cảnh Duyên 4,3 cây vàng. Thời gian đầu bà giữ hộ, sau đó có trả lại để anh chị cất vào két (chiếc két này được bà lấy từ công ty của gia đình bà về, không phải mua mới). Thời gian sống chung, bà có biết việc anh chị đi du lịch nước ngoài, đi chơi nhiều nơi, đi khám chữa bệnh... tuy nhiên cụ thể anh chị chi tiêu như thế nào gia đình bà không nắm rõ. Nay anh chị không còn là vợ chồng, bà cũng mong muốn chị D trả lại cho gia đình bà 2,5 cây vàng như anh C đã trình bày. Gia đình bà chỉ có các hóa đơn mua vàng chứ cũng không có tài liệu nào khác liên quan đến vàng của anh chị. Quan điểm của bà giống của anh C nên bà không có đơn đề nghị giải quyết riêng.

Bố đẻ chị D là ông Phạm Minh Đ1 xác nhận việc hai bên gia đình có cho vợ chồng anh chị vàng làm kỷ niệm. Tuy nhiên, gia đình ông đều không biết anh chị được cho tổng bao nhiêu vàng, anh chị chưa khi nào nói chuyện về vấn đề kinh tế với gia đình. Khi vợ chồng xảy ra va chạm, ông đã đến đón và đưa trực tiếp chị D về nhà ở xã C, huyện Đ để sinh sống. Gia đình ông không nhìn thấy hay nghe chị D nhắc gì đến chuyện cầm vàng của vợ chồng. Việc cho anh chị, chi tiêu như thế nào là quyền riêng tư của anh chị, gia đình không ai can thiệp và cũng không có ý kiến gì. Số vàng gia đình ông đã cho anh chị, ông cũng không đề nghị gì

Quá trình chuẩn bị xét xử, bà L1 cung cấp 1 số tài liệu chứng cứ xác định việc cho vàng của vợ chồng bà, vợ chồng anh Nguyễn Đức D1, chị Ngô Thị L2, ông Đoàn Quốc T, bà Đoàn Thị Lan A, vợ chồng ông Đoàn Đức L3, bà Phạm Thị P (đều là anh em bên nội). Tất cả đều xác nhận việc cho anh C và chị D vàng trong ngày cưới.

+ Về vay nợ chung, công sức: Hai bên không có và không đề nghị gì

Tại phiên tòa, đại điện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, xác định:

- Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng:

+ Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị D và anh C

+ Về con chung: Không có, không giải quyết

+ Về tài sản chung : Không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Nguyễn Đức C.

+ Về vay nợ chung và các vấn đề khác: Không yêu cầu nên không giải quyết.

+Về án phí: Chị D và anh C phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Do yêu cầu phản tố không được chấp nhận nên anh C phải chịu án phí đối với yêu cầu chia tài sản của mình không được Tòa án chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn là chị Phạm Thị D cư trú tại huyện Đ khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là anh Nguyễn Đức C cư trú tại khu A, T, huyện H, tỉnh Phú Thọ nên đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại đơn khởi kiện, chị D không đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản chung. Quá trình tiếp cận, công khai chứng cứ, anh C có đơn, đề nghị chia tài sản chung của vợ chồng nên Tòa án đã thụ lý yêu cầu phản tố của anh. Do vậy Tòa án xem xét giải quyết vấn đề hôn nhân, chia tài sản chung giữa anh chị.

Quá trình giải quyết, anh C đề nghị đưa bà Đoàn Thị Vân L1, anh Nguyễn Đức D1, ông Đoàn Đức L3, ông Đoàn Quốc T, bà Đoàn Thị Lan A là người làm chứng. Tuy nhiên, xét thấy việc anh chị được trao tặng vàng tại lễ cưới, chị D cũng thừa nhận được những người có tên trên trao tặng (nhưng không xác định được cụ thể cho bao nhiêu). Quá trình cất giữ, sử dụng vàng chỉ liên quan đến anh C, chị D và bà Đoàn Thị Vân L1. Bà L1 được xác định là người làm chứng do sống cùng nhà anh chị và là người kiểm kê, cất giữ vàng như các bên thừa nhận. Do vậy, Tòa án không đưa anh D1, ông L3, ông T, bà A vào là người làm chứng như anh C đề nghị.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị D kết hôn với anh Nguyễn Đức C năm 2022 là hôn nhân hợp pháp bởi lẽ anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn H, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Hai bên chung sống hòa thuận chỉ được khoảng 2 tháng thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, không còn quan tâm, yêu thương nhau do không có tiếng nói chung và quan điểm sống khác nhau. Chị D đã về nhà ngoại sinh sống. Vợ chồng hiện đã sống ly thân không ai có trách nhiệm với nhau nữa.

Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị D và anh C đã mâu thuẫn trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị D xin ly hôn và anh C nhất trí thuận tình ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 55 luật Hôn nhân gia đình, cần chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Chị Phạm Thị D và anh Nguyễn Đức C không có con chung nên không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung: Hội đồng xét xử nhận thấy, khi chị D và anh C tổ chức đám cưới đã được gia đình hai bên tặng vàng. Việc này anh chị và gia đình hai bên đều thừa nhận. Tuy nhiên, trọng lượng cụ thể anh chị được cho bao nhiêu vàng, ngoài lời khai của anh C và những người thân trong gia đình anh C, thì không có căn cứ để xác định cụ thể. Quá trình giải quyết anh C xác định tổng số vàng được cho là 4,3 cây. Anh C xác định số vàng này là tài sản chung tuy nhiên tại phiên tòa, anh trình bày 2,5 cây vàng phía bên nhà anh cho là tài sản riêng của anh, cho riêng anh nên yêu cầu chị D phải trả lại.

Cũng trong phiên tòa, anh C trình bày không biết về việc cất vàng vào két. Trong đó cả quá trình giải quyết và đơn trình bày anh giao nộp đề ngày 12/9/2023 anh đều xác định vàng đã được cất vào két của gia đình. Số lượng vàng theo như anh và bà L1 trình bày là có kiểm đếm. Tuy nhiên trọng lượng vàng anh cung cấp khi là 4,3 cây vàng, lúc là 4,5 cây vàng. Tại phiên tòa anh khẳng định không biết bên nhà chị D cho bao nhiêu vàng, nhưng trong đơn trình bày, anh lại xác định rõ vàng nhà chị D cho là 1,8 cây. Như vậy ngay trong chính lời khai của anh đã có sự không đồng nhất.

Anh C đề nghị Tòa án buộc chị D phải trả lại anh 2,5 cây vàng là số vàng anh được nhà nội cho, cụ thể : Ông Nguyễn Đức K, bà Đoàn Thị Vân L1 (bố mẹ đẻ) cho 1 cây vàng 9999 ; anh Nguyễn Đức D1, chị Ngô Thị L2 (vợ chồng em trai) cho 1,2 cây vàng 9999 ; ông Đoàn Đức L3, bà Phạm Thị P (bác bá) cho 1 chỉ vàng 9999 ; ông Đoàn Quốc T (cậu) cho 1 chỉ vàng 9999 ; bà Đoàn Thị Lan A (D) cho 1 chỉ vàng 9999: Đối với các tài liệu anh C và bà L1 cung cấp gồm đơn xác nhận, hóa đơn mua vàng chỉ chứng minh việc anh chị có được cho vàng, không chứng minh được trọng lượng cụ thể khi phía chị D phủ nhận, không biết giá trị cụ thể và không được sử dụng, quản lý số vàng này. Mặt khác, những người thân của anh C không có gì chứng minh được việc sử dụng, chi tiêu của anh chị như thế nào. Tất cả những lời khai của anh C và bà L1 cùng những tài liệu cung cấp cũng không chứng minh được việc hiện chị D cầm số tài sản (vàng) được cho. Đối với vụ án dân sự, nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự, đến nay anh C không chứng minh được theo yêu cầu của mình do vậy không có căn cứ để xác định hiện chị D đang cầm vàng để phân chia, yêu cầu của anh C không có cơ sở để chấp nhận.

[2.4] Về vay nợ chung và công sức đóng góp: Do anh chị không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.5] Về án phí: Chị D, anh C phải nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật. Do yêu cầu phản tố không được chấp nhận nên anh C phải chịu án phí về chia tài sản theo quy định của pháp luật (Giá vàng tại thời điểm xét xử ngày 29/9/2023 tại Ngân hàng N1 được xác định là 5.738.000đ/chỉ)

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 55, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1,4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị D và anh Nguyễn Đức C
  2. Về con chung: Không có
  3. Về tài sản chung : Không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Nguyễn Đức C về yêu cầu chia tài sản chung.
  4. Về vay nợ chung và công sức đóng góp: Không giải quyết
  1. Về án phí ly hôn sơ thẩm:

+ Chị Phạm Thị D và anh Nguyễn Đức C mỗi người phải nộp 75.000₫ (Bẩy mươi lăm nghìn đồng). Số tiền chị D phải nộp được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ, theo biên lai số AA/2020/0005328 ngày 12/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hạ Hòa. Chị D được hoàn lại 225.000₫ (Hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng)

+ Anh Nguyễn Đức C phải nộp 7.172.500₫ (Bẩy triệu một trăm bẩy mươi hai nghìn năm trăm đồng) tiền án phí chia tài sản, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.500.000đ, theo biên lai số AA/2020/0005329 ngày 12/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hạ Hòa. Anh C còn phải nộp tiếp 672.500₫ (Sáu trăm bẩy mươi hai nghìn năm trăm đồng). Tổng án phí anh C còn phải nộp là 747.500đ (Bẩy trăm bốn mươi bẩy nghìn năm trăm đồng)

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

- VKS huyện, tỉnh;

- Chi cục Thi hành án DS;

- UBND TT Hạ Hòa;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Mai Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/HNGĐ-PT ngày 07/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 11/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger