Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỘC CHÂU

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2024/HS-ST
Ngày 06-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Long Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Anh Đông và bà Cầm Thị Đoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Lệ Giang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 11/2024/QĐXXST-HS ngày 24/10/2024 đối với:

Bị cáo: Ngô Xuân T, sinh ngày: 15/6/1982 tại huyện Ý, tỉnh Nam Định; Nơi ĐKHKTT: Thôn C, xã T, huyện K, tỉnh Kon Tum; Nơi ở: Tiểu khu B, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Ngô Xuân R (đã chết) và bà Nguyễn Thị M; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị V và 03 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/8/2024 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 55 phút ngày 13/8/2024, tổ công tác Công an xã Đ làm nhiệm vụ tại bản Tự Nhiên, xã Đ, huyện M tiến hành kiểm tra đối với Ngô Xuân T điều khiển xe máy Honda, loại xe Airblade, màu sơn đen, biển kiểm soát 26K3-9701 phát hiện Ngô Xuân T đang cất giấu trong người một gói nilon màu trắng bên trong đựng 14 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY nghi là Methamphetamine. Ngô Xuân T khai nhận đó là ma túy của T cất giấu để sử dụng cho bản thân, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng và dẫn giải Ngô Xuân T bàn giao cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M để điều tra, làm rõ.

Ngày 13/8/2024 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M đã tiến hành xác định khối lượng 14 viên nén màu hồng thu giữ của Ngô Xuân T được 1,43 gam, lấy 05 viên khối lượng 0,51 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu T.

Tại Kết luận giám định số 1613/KL-KTHS ngày 18/8/2024 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu T gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,51 gam; Khối lượng ma túy thu giữ là 1,43 gam; loại Methamphetamine."

Quá trình điều tra Ngô Xuân T khai nhận: Bản thân nghiện chất ma túy có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Kon Tum và làm thợ xây, ở trọ tại tiểu khu B, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sơn La từ tháng 5 năm 2024. Khoảng 15 giờ ngày 13/8/2024, T điều khiển xe máy Honda, loại xe Airblade, màu sơn đen, biển kiểm soát 26K3-9701 đi đến bản C, xã Đ, huyện M mục đích để tìm mua ma tuý sử dụng. Khi đi đến đầu bản C, xã Đ, T gặp và hỏi mua được của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không quen biết 16 viên hồng phiến được gói bằng mảnh nilon màu trắng với giá 400.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, T đã sử dụng 02 viên, còn lại 14 viên T gói lại và giấu trong cạp quần lót rồi trở về. Trên đường đi thì gặp tổ công tác kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.

Tại phiên tòa bị cáo Ngô Xuân T trình bày ý kiến, giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Cáo trạng số 176/CT-VKS ngày 14/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị can Ngô Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ngô Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:

  1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Ngô Xuân T từ 30 tháng đến 36 tháng tù.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

  2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HonDa loại Airblade, màu sơn đen, biển kiểm soát 26K3 - 9701, số khung: RLHJF18088Y7220494; số máy: JF18E-5326419, xe có 01 gương chiếu hậu bên trái, xe đã qua sử dụng thu giữ của Ngô Xuân T.

    Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ vật chứng vụ Ngô Xuân T, bắt ngày 13/8/2024 (01 mảnh nilon màu trắng, 09 viên = 0,92 gam Methamphetamine và phong bì niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ test thử ma túy đối của Ngô Xuân T.

  3. Bị cáo phải chịu phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án. Bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Ngô Xuân T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra, số ma túy bị tổ công tác Công an xã Đ, huyện M thu giữ của bị cáo vào ngày 13/8/2024 có nguồn gốc mua được của một người đàn ông với giá 400.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an xã Đ lập vào hồi 16 giờ 15 phút ngày 13/8/2024; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; bản kết luận giám định số 1613/KL-KTHS ngày 18/8/2024 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu T gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,51 gam; Khối lượng ma túy thu giữ là 1,43 gam; loại Methamphetamine.” Methamphetamine nằm trong danh mục II, mục IIC, số thứ tự 247 tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ của cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Ngô Xuân T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 13/8/2024 bị cáo Ngô Xuân T đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 1,43 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo Ngô Xuân T không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét áp dụng đối với bị cáo.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện hút chất ma túy. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng với lỗi cố ý. Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, sống chung với gia đình, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[4] Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HonDa loại Airblade, màu sơn đen, biển kiểm soát 26K3 - 9701, số khung: RLHJF18088Y7220494; số máy: JF18E-5326419, xe có 01 gương chiếu hậu bên trái, xe đã qua sử dụng thu giữ của Ngô Xuân T, là tài sản hợp pháp của bị cáo sử dụng để đi mua ma túy, xét thấy là phương tiện bị cáo sử dụng vào hành vi phạm tội. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu sung quỹ Nhà nước

Đối với 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ vật chứng vụ Ngô Xuân T, bắt ngày 13/8/2024 (01 mảnh nilon màu trắng, 09 viên = 0,92 gam Methamphetamine và phong bì niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ test thử ma túy đối của Ngô Xuân T, xét thấy là vật Nhà nước cấm tàng trữ lưu hành và không có giá trị sử dụng. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

[5] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng phù hợp với khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Ngô Xuân T, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.

Thời hạn tạm giam của bị cáo dưới 45 ngày nên Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự

    Tuyên bố bị cáo Ngô Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Ngô Xuân T 33 (Ba mươi ba) tháng tù.

    Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 13/8/2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

  2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HonDa loại Airblade, màu sơn đen, biển kiểm soát 26K3 - 9701, số khung: RLHJF18088Y7220494; số máy: JF18E-5326419 thu giữ của Ngô Xuân T.

    Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ vật chứng vụ Ngô Xuân T, bắt ngày 13/8/2024 (01 mảnh nilon màu trắng, 09 viên = 0,92 gam Methamphetamine và phong bì niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ test thử ma túy đối của Ngô Xuân T.

  3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Về án phí: Buộc bị cáo Ngô Xuân T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 06/11/2024).

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Sơn La;
  • - Viện KSND huyện Mộc Châu;
  • - Công an huyện Mộc Châu;
  • - Chi cục THADS huyện Mộc Châu;
  • - Trại giam;
  • - THA HS;
  • - Bị cáo;
  • - Sở tư pháp tỉnh Sơn La (khi án có hiệu lực);
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lương Long Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/HS-ST ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 11/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Xuân T tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger