|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 11/2024/HNGĐ-ST Ngày 23/4/2024 V/v: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Xuân Hùng
- Ông Lã Văn Minh
Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Khiết – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 107/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 02/QĐST-DS, ngày 29/3/2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mai H, sinh năm 1985. Có mặt
- Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
- - Bị đơn: Anh Phùng Văn C, sinh năm 1987. Vắng mặt
- Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Mai H trình bày: Chị kết hôn với anh Phùng Văn C vào năm 2010, trước khi cưới hai bên có thời gian tìm hiểu, yêu thương nhau, tự nguyện thỏa thuận kết hôn, không bị ai cưỡng ép, lừa dối. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang vào ngày 10/12/2010. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống cùng nhau tại thôn L, xã T. Tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận, hạnh phúc.
Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh căng thẳng từ đầu năm 2023, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau về quan điểm, lối sống, bảo ban không ai nghe ai dẫn đến cãi chửi nhau. Vợ chồng tuy vẫn sống cùng nhau nhưng đã ly thân về mặt tình cảm, không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc cho nhau nữa.
Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, tình trạng hôn nhân căng thẳng, trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Tòa án giải quyết cho C1 và anh C được ly hôn nhau.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Phùng Thanh T, sinh ngày 26/9/2011 và cháu Phùng Thanh L, sinh ngày 12/10/2017. Hiện cả hai cháu đang ở cùng vợ chồng chị. Vợ chồng ly hôn, đề nghị Tòa án giao cả hai con cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Chị không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con nữa. Anh C quan tâm đến các con như thế nào là tùy vào lương tâm và trách nhiệm của anh C.
Về tài sản chung, công nợ chung, vợ chồng đã tự thỏa thuận nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án, anh Phùng Văn C trình bày: Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị Mai H vào năm 2010, trước khi cưới hai bên có thời gian tìm hiểu, yêu thương nhau, tự nguyện thỏa thuận kết hôn, không bị ai cưỡng ép, lừa dối. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang vào ngày 10/12/2010. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống cùng nhau tại thôn L, xã T. Tình cảm vợ chồng luôn hòa thuận, hạnh phúc.
Vợ chồng anh vẫn chung sống cùng nhau, thi thoảng có tranh luận, cãi vã nhưng không có mẫu thuẫn gì. Anh không biết vì sao chị H lại muốn ly hôn với anh. Anh xác định tình cảm vợ chồng không có gì căng thẳng, anh vẫn còn yêu thương chị H và mong muốn xây dựng gia đình hạnh phúc. Vì vậy, chị H xin ly hôn, anh không nhất trí.
Vợ chồng có 02 con chung là cháu Phùng Thanh T, sinh ngày 26/9/2011 và cháu Phùng Thanh L, sinh ngày 12/10/2017. Hiện cả hai cháu đang ở cùng vợ chồng anh. Anh mong muốn vợ chồng không ly hôn, cùng nhau nuôi dạy con cái. Nhưng nếu vợ chồng ly hôn, đề nghị Tòa án giao cả hai con cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, anh không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản, công nợ: Anh cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Con của chị H, anh C là cháu Phùng Thanh T trình bày: Nếu bố mẹ cháu ly hôn, nguyện vọng của cháu là muốn được ở cùng với mẹ vì mẹ chăm sóc cho cháu tốt hơn.
4. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến tại phiên tòa:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng và đầy đủ thủ tục tố tụng. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, anh C không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án là vi phạm nghĩa vụ của đương sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự của phiên tòa sơ thẩm.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6, Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị Nguyễn Thị Mai H được ly hôn anh Phùng Văn C; về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Mai H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục Phùng Thanh T, sinh ngày 26/9/2011 và cháu Phùng Thanh L, sinh ngày 12/10/2017; anh C không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị Nguyễn Thị Mai H phải chịu án phí ly hôn là 300.000đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Mai H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” đối với bị đơn anh Phùng Văn C, có hộ khẩu thường trú và đang cư trú tại thôn L, xã T, huyện S. Căn cứ vào Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Sơn Động thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Anh Phùng Văn C đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh C theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mai H và anh Phùng Văn Cam kết h với nhau trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận tiến tới hôn nhân, đã thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T ngày 10/12/2010. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh C là hợp pháp.
Chị H xác định vợ chồng có mâu thuẫn, mặc dù vẫn chung sống cùng nhà nhưng đã ly thân về mặt tình cảm, không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, tình trạng hôn nhân căng thẳng, trầm trọng, chị không thể tiếp tục chung sống cùng anh C nên có nguyện vọng được ly hôn. Mặc dù anh C mong muốn vợ chồng đoàn tụ, nhưng anh C cũng không có giải pháp gì để cải thiện đời sống chung vợ chồng. Xét thấy, chị H và anh C đều đã vi phạm nghĩa vụ vợ chồng là phải thương yêu, chăm sóc cho nhau, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị H được ly hôn anh C theo khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị H và anh C xác định có 02 con chung là cháu Phùng Thanh T, sinh ngày 26/9/2011 và cháu Phùng Thanh L, sinh ngày 12/10/2017. Vợ chồng ly hôn, chị H, anh C đều có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả hai con. Xét thấy chị H có chỗ ở ổn định, có việc làm cho thu nhập, anh C hiện chưa có việc làm ổn định nên điều kiện nuôi dưỡng con của chị H là tốt hơn anh C. Hiện nay các cháu đều còn nhỏ, cần sự chăm sóc của người mẹ, để đảm bảo cuộc sống của các con không bị đảo lộn, Hội đồng xét xử giao cả hai con cho chị H nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, phù hợp với nguyện vọng của cháu T và kết quả xác minh tại địa phương. Chị H không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết. Anh C có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung: Chị H, anh C đều không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mai H là nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại Điều 6, Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6, Điều 26, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Mai H được ly hôn anh Phùng Văn C.
-
Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Mai H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Phùng Thanh T, sinh ngày 26/9/2011 và cháu Phùng Thanh L, sinh ngày 12/10/2017 cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có quyết định khác của Tòa án.
Anh C không phải cấp dưỡng nuôi con.
Không ai được cản trở anh C quyền thăm nom con sau khi ly hôn.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mai H phải chịu 300.000₫ ( Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0000785, ngày 17/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sơn Động. Xác nhận chị H đã nộp đủ tiền án phí ly hôn.
Đương sự có mặt có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
* Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Hằng |
Bản án số 11/2024/HNGĐ-ST ngày 23/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 11/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị H kết hôn với anh C, quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn nên chị H xin ly hôn anh C
