|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2024/HS - ST
Ngày 05/6/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Thanh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Hồng Thái
Ông Hoàng Văn Tùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Ma Thị Anh Trâm - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Hứa Thị Hồng Tươi và ông Vi Văn Luận - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2024/TLST-HS, ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nông Văn H, sinh ngày 03 tháng 3 năm 2005 tại huyện P, tỉnh Bắc Kạn.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; họ tên cha: Không xác định được cha; họ tên mẹ: Nông Thị H1, sinh năm 1986; Vợ, con: Chưa có
Tiền án: Không
Tiền sự: 01
Ngày 13 tháng 12 năm 2023, Nông Văn H bị xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, tại Quyết định số 22/QĐ-XPHC của Công an huyện P, Nông Văn H chưa chấp hành quyết định xử phạt, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
Nhân thân:
Ngày 27 tháng 9 năm 2021, Nông Văn H bị xử phạt vi phạm hành chính số tiền 500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, tại Quyết định số 189/QĐ-XPHC của Công an huyện P.
Ngày 17 tháng 8 năm 2022, Nông Văn H bị xử phạt vi phạm hành chính số tiền 7.500.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình, tại Quyết định số 2520/QĐ-XPVPHC của Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện P.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại thôn N, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Phương B - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Có mặt
- Bị hại:
Anh Nông Văn K, sinh năm 1983
Địa chỉ: Thôn P, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Anh Dương Văn T, sinh ngày 02/3/2006
Địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Trường Trung học phổ thông B2, huyện P
Người đại diện theo pháp luật: Anh Lục Văn T1, sinh năm 1983 - Chức vụ: Hiệu trưởng
Địa chỉ: Thôn N, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 19/02/2024, Nông Văn H đi bộ từ nhà ở thuộc thôn N, xã B, huyện P ra trung tâm xã B. Khi đi qua trước cổng trường Trung học phổ thông B2 thuộc thôn N, xã B thì nảy sinh ý định vào trong nhà trường để trộm cắp tài sản. H trèo qua cổng phụ vào trong nhà trường và đi đến lán của đội thợ xây dựng trong trường, tại đây H lấy trộm được một chiếc kìm bằng kim loại, có tay cầm bằng nhựa màu cam – đen của anh Dương Văn T, trú tại thôn P, xã C, huyện P là thợ xây công trình trong trường. H tiếp tục đi ra sau khu tập thể giáo viên, phát hiện cửa đằng sau phòng của anh Nông Văn K là giáo viên của nhà trường bị mục nên đã dùng chiếc kìm vừa lấy trộm được để cậy đi một ô ván trên cửa tạo thành một lỗ hổng đủ để H chui lọt qua, H bỏ chiếc kìm lại tại nền xi măng sau cánh cửa, rồi chui qua lỗ hổng trên cửa vào trong phòng. H lục lọi tìm tài sản và lấy được 03 tờ tiền mỗi tờ có mệnh giá 500.000 đồng để tại kệ sách nên đã cất tiền vào túi quần, tiếp tục mở tủ quần áo thấy một con lợn màu đỏ bằng sứ (lợn để tiền tiết kiệm), cầm lên lắc để kiểm tra thì nghe thấy có tiếng lạch cạch bên trong, H biết bên trong có tiền nên cầm theo và tiếp tục tìm tài sản khác để lấy trộm thì nghe thấy có tiếng anh K mở cửa phòng, H chạy ra phía cửa sau, ném con lợn bằng sứ ra ngoài, sau đó chui ra ngoài thì thấy con lợn bằng sứ đã bị vỡ và có tiền bên trong, H nhặt lấy được 910.000 đồng và chạy trốn lên trên đồi đằng sau nhà trường, khi anh K mở cửa phát hiện có người ở trong nhà và bỏ chạy theo lối cửa sau, đi đến kiểm tra phát hiện còn số tiền 170.0000 đồng đã giao nộp toàn bộ cho Cơ quan Công an. Qua rà soát các đối tượng có đặc điểm như bị hại mô tả, Công an xã B đã mời H về trụ sở làm việc, H khai nhận hành vi trộm cắp của mình và giao nộp toàn bộ số tiền trộm được cho cơ quan Công an là 2.410.000 đồng.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 19/02/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P xác định: Hiện trường vụ trộm cắp tài sản là tại phòng số 04 (phòng ở của anh Nông Văn K – giáo viên) dãy nhà ở tập thể của giáo viên trường Trung học phổ thông B2, huyện P, tỉnh Bắc Kạn, phòng có kích thước 3,05x13,80m thuộc thôn N, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn.
Tại Biên bản giám định tiền giả, tiền nghi giả ngày 07/3/2024 của Ngân hàng N – Chi nhánh B3 kết luận: Số tiền Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P gửi giám định là tiền do Ngân hàng N phát hành.
Tại Kết luận định giá tài sản số 02 ngày 14/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện P kết luận: Tại thời điểm tháng 02/2024, 01 chiếc kìm bằng kim loại có tay cầm bằng nhựa màu cam – đen có giá trị 35.000 đồng; 01 con lợn (vật hình con lợn dùng để dựng tiền tiết kiệm) bằng sứ, màu đỏ có giá trị 35.000 đồng. Tổng giá trị của chiếc kìm và con lợn (vật hình con lợn dùng để dựng tiền tiết kiệm) là 70.000 đồng.
Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, trước đó bị cáo chưa phạm tội lần nào. Quá trình điều tra, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năm hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về trách nhiệm dân sự:
- + Bị hại Nông Văn K yêu cầu được trả lại số tiền 2.580.000 đồng, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm.
- + Bị hại Dương Văn T yêu cầu được trả lại chiếc kìm bằng kim loại, có tay cầm bằng nhựa màu cam - đen.
- + Anh Lục Văn T1 – Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông B4 Bố không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Vật chứng, tài sản tạm giữ của vụ án:
- + Số tiền 2.410.000 tạm giữ của Nông Văn H, được niêm phong trong phong bì ký hiệu H3.
- + Số tiền 170.000 đồng tạm giữ của anh Nông Văn K, được niêm phong trong phong bì ký hiệu H4.
- + 01 chiếc kìm bằng kim loại, có tay cầm bằng nhựa màu cam – đen;
- + 03 mảnh vỡ của con lợn bằng sứ, một mặt màu đỏ, một mặt màu trắng, mảnh to nhất có kích thước (0,12 x 0,10)m, mảnh nhỏ nhất có kích thước (0,1 x 0,7)m.
Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKSPN ngày 25/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm để xét xử Nông Văn H về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nông Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
a) Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nông Văn H từ 06 đến 12 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
b) Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại anh Nông Văn K không yêu cầu bị cáo bồi thường do vậy không xem xét.
Bị hại Dương Văn T không yêu cầu bị cáo bồi thường do vậy không xem xét.
Anh Lục Văn T1 - Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông B4 Bố không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
c) Xử lý vật chứng: Xử lý vật chứng theo quy định
d) Án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên toà người bào chữa cho bị cáo nhận thấy việc xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ tại điểm i, s khoản 1 Điều 51. Đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, người bào chữa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị hại vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 292, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.
[2] Kết quả tranh tụng tại phiên tòa đã có đủ căn cứ khẳng định:
Khoảng 09 giờ ngày 19 tháng 02 năm 2024, tại trường Trung học phổ thông B2 thuộc thôn N, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn, Nông Văn H đã trộm cắp 01 chiếc kìm bằng kim loại của anh Dương Văn T có giá trị 35.000 đồng và số tiền 2.580.000 đồng cùng 01 con lợn đất có giá trị 35.000 đồng của anh Nông Văn K. Tổng số tiền và tài sản Nông Văn H đã thực hiện hành vi trộm cắp có giá trị 2.650.000 đồng. Khi thực hiện hành vi bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ căn cứ khẳng định hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
- Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
[3]. Xét tính chất nghiêm trọng, mức độ phạm tội của bị cáo thấy.
Mặc dù nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị, nhưng do muốn có tiền tiêu sài nên bị cáo đã thực hiện trộm cắp tài sản của anh Dương Văn T và anh Nông Văn K. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự xã hội nói chung và huyện P nói riêng, do vậy cần phải có hình phạt xứng đáng với hành vi mà bị cáo đã gây ra.
[4]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, trong quá khứ bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính nhiều lần, bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, do vậy bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, các quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và đảm bảo tính giáo dục, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả điều tra, xác minh cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5]. Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại anh Nông Văn K không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị hại anh Dương Văn T không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh Lục Văn T1 - Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông B4 Bố không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6]. Về vật chứng của vụ án:
Vật chứng của vụ án gồm:
Số tiền 2.410.000 tạm giữ của Nông Văn H, được niêm phong trong phong bì ký hiệu H3, đây là số tiền của anh Nông Văn K do vậy cần trả lại cho anh Nông Văn K.
Số tiền 170.000 đồng tạm giữ của anh Nông Văn K, được niêm phong trong phong bì ký hiệu H4, đây là số tiền của anh Nông Văn K, do vậy cần trả lại cho anh Nông Văn K.
01 chiếc kìm bằng kim loại, có tay cầm bằng nhựa màu cam - đen, đây là chiếc kìm của anh Dương Văn T, do vậy cần trả lại cho anh Dương Văn T.
03 mảnh vỡ của con lợn bằng sứ, một mặt màu đỏ, một mặt màu trắng, mảnh to nhất có kích thước (0,12 x 0,10)m, mảnh nhỏ nhất có kích thước (0,1 x 0,7)m, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiểm sát: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn tại phiên tòa giữ nguyên Quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ. Mức hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
Đánh giá việc người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ tại điểm i, s khoản 1 Điều 51. Đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo mức đề nghị của Viện kiểm sát. Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo. Hội đồng xét xử nhận định đề nghị của người bào chữa là có căn cứ nên cần được xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, có hộ khẩu thường trú và chỗ ở thuộc xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo và bị cáo có đơn xin miễn án phí. Do vậy cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- [1]. Tuyên bố bị cáo Nông Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- [2]. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nông Văn H 07 (B1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- [3]. Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại anh Nông Văn K không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị hại Dương Văn T không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh Lục Văn T1 - Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông B4 Bố không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [4]. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Trả lại số tiền 2.410.000đ được niêm phong trong phong bì ký hiệu H3 cho anh Nông Văn K, trú tại thôn P, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn.
Trả lại số tiền 170.000 đồng được niêm phong trong phong bì ký hiệu H4 cho anh Nông Văn K, trú tại thôn P, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn
Trả lại cho anh Dương Văn T, trú tại thôn P, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn một chiếc kìm bằng kim loại, có tay cầm bằng nhựa màu cam - đen.
Tịch thu tiêu hủy 03 mảnh vỡ của con lợn bằng sứ, một mặt màu đỏ, một mặt màu trắng, mảnh to nhất có kích thước (0,12 x 0,10)m, mảnh nhỏ nhất có kích thước (0,1 x 0,7)m.
(Số lượng, tình trạng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/4/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện P, tỉnh Bắc Kạn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn).
- [5]. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- [6]. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhân:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Hà Thanh Tuấn |
8
Bản án số 11/2024/HS - ST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 11/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nông Văn H "Trộm cắp tài sản"
