|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án: 11/2024/HS-ST Ngày: 05-01-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Trúc Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Chánh.
- Bà Huỳnh Thị Kim Kiên.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Đặng Xuân Toàn – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 637/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 661/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2023, quyết định hoãn phiên tòa số 1326/2023/TLST-HS ngày 13/12/2023, quyết định hoãn phiên tòa số 1365/2023/HSST-QĐ ngày 20/12/2023 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Thế T, tên gọi khác: L, sinh năm 1987 tại Hải Phòng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: E, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: E, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: Lớp 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Phi H sinh năm 1959; Con bà Cao Thị T1, sinh năm 1959; Bị cáo có vợ là chị Nguyễn Thị Mỹ L1, sinh năm 1982 và có 01 con sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: không.
- Họ và tên: Đoàn Văn Á (tên gọi khác: H1), sinh năm 1972, tại Thái Bình; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố A, thị trấn P, huyện K, tỉnh Gia Lai; Nơi cư trú: 77/1, tổ C, khu phố B, phường T, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đoàn Văn N sinh năm 1943; Con bà Nguyễn Thị C sinh năm 1947; Bị cáo có vợ là chị Hà Thị Lâm H2 sinh năm 1976 và có 03 con, hai con lớn đã chết, con nhỏ nhất sinh năm 2011. Tiền án, tiền sự: không.
- Họ và tên: Nguyễn Thái Trường V, tên gọi khác: Không, sinh năm 1980, tại Vĩnh Long; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: B9, tổ A, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: B9, tổ A, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thái C1; Con bà Nguyễn Thị Kim P; Bị cáo có vợ là chị Nguyễn Lộc T2, sinh năm 1976 và có 02, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: không.
- Họ và tên: Nguyễn Văn N1, tên gọi khác: Không, sinh năm 1983 tại Bình Dương; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, khu phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nơi cư trú: Tổ A, khu phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: Lớp 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T3 sinh năm 1954; Con bà Hồ Thị G sinh năm 1956; Bị cáo có vợ là chị Dương Thị Ú sinh năm 1976 và có 01 sinh năm 2008. Tiền án, tiền sự: không.
- Họ và tên: Mai Văn H3, tên gọi khác: Không, sinh năm 1985 tại Đồng Nai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; Nơi cư trú: Số B, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: Lớp 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mai Văn D sinh năm 1937; Con bà Nguyễn Thị N2 sinh năm 1941; Bị cáo có vợ là chị Trần Thị C2 sinh năm 1983 và có 02, con lớn sinh năm 2009 và con nhỏ sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: không.
- Họ và tên: Trần Thế T4, tên gọi khác: Không, sinh năm 1986 tại Kiên Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 40/7, khu phố L, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: 40/7, khu phố L, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T5; Con bà Trần Thị Ngọc T6 sinh năm 1966; Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: không.
- + Ngày 05/8/2011, bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt tiền 6.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước tại Bản án số 233/2011/HSST (đã xóa án tích).
- + Ngày 01/7/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 101/2014/HSST (đã xóa án tích).
- Họ và tên: Lê Thị T7, tên gọi khác: K, sinh năm 1987 tại Bạc Liêu; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp S, xã S, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: K, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: Lớp 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Xuân T8 sinh năm 1960; Con bà Phạm Thị U1 sinh năm 1965; Bị cáo có chồng là anh Phạm Minh C3 sinh năm 1989 và có 02 con, con lớn sinh năm 2016 và con nhỏ sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: không.
- Họ và tên: Nguyễn Thị C4, tên gọi khác: Không, sinh năm 1981 tại Bình Thuận; Nơi đăng ký HKTT: 623/36B, đường Cách mạng tháng 8, tổ E, khu phố E, phường A, quận A, thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: F, đường Cách mạng tháng 8, tổ E, khu phố E, phường A, quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L2; Con bà Phạm Thị M; Bị cáo có chồng là anh Lê Huy C5 sinh năm 1977 (đã ly hôn) và có 02 con, con lớn sinh năm 2003 và con nhỏ sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 16/10/2015, bị Trưởng Công an phường T, thành phố B xử phạt số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi “Đánh bạc” tại Quyết định số 65/QĐ-XPVPHC ngày 16/10/2015 của Trưởng Công an phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Bị tạm giữ từ ngày 15/5/2023 đến ngày 24/5/2023 thì được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt).
Bị tạm giữ từ ngày 15/5/2023 đến ngày 24/5/2023 thì được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt).
Bị tạm giữ từ ngày 15/5/2023 đến ngày 24/5/2023 thì được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt).
Bị tạm giữ từ ngày 15/5/2023 đến ngày 24/5/2023 thì được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt).
Bị tạm giữ từ ngày 15/5/2023 đến ngày 24/5/2023 thì được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt).
Nhân thân:
Bị tạm giữ từ ngày 15/5/2023 đến ngày 24/5/2023 thì được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt).
Bị tạm giữ từ ngày 15/5/2023 đến ngày 24/5/2023 thì được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt).
Bị tạm giữ từ ngày 15/5/2023 đến ngày 24/5/2023 thì được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 45 phút ngày 14/5/2023, Phòng C6 Công an tỉnh Đ phối hợp với Cơ quan Cảnh sát hình sự Công an thành phố B phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Thế T, Đoàn Văn Á, Nguyễn Thái Trường V, Trần Thế T4 đang đánh bạc thắng thua bằng tiền với hình thức lắc “Tài xỉu” tại nhà số E, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do Nguyễn Thế T làm chủ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã lập biên bản thu giữ số tiền 7.300.000 đồng (bảy triệu ba trăm nghìn đồng) trên chiếu bạc và số tiền 20.900.000 đồng (Hai mươi triệu chín trăm nghìn đồng) các bị cáo Y, T, Á và T4 cất giữ trong người dùng để đánh bạc.
Quá trình điều tra đã xác định được: Vào khoảng 19 giờ 30 phút, tại nhà của Nguyễn Thế T gồm có: Nguyễn Thế T, Đoàn Văn Á, Nguyễn Văn N1 và Mai Văn H3 tham gia đánh bạc bằng hình thức lắc “Bầu cua”. Ái sử dụng 01 bộ lắc bầu cua để làm cái (do Á mang đến) để những người tham gia sẽ đặt tiền với cách thức: Ái sử dụng 03 khối lập phương (hột bầu cua) trên các mặt có dán các hình trái bầu, con cua, con tôm, con cá, con gà và con nai, 01 tờ giấy có in các hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai để những người chơi đặt tiền vào hình do mình chọn. Khi chơi Á sẽ cho 03 hột bầu cua vào đĩa có nắp đậy kín và xóc lên để chờ cho những người tham gia đặt tiền vào một hoặc nhiều hình là bầu, cua, tôm, cá, gà, nai trong cùng một ván chơi, sau đó Á sẽ mở nắp ra, nếu người chơi đã đặt khớp với những hình trên hột “Bầu cua” do Á mới xóc thì sẽ thắng và Á sẽ phải trả tiền tương ứng với số tiền người chơi đã đặt (nếu xuất hiện 02 hình mà người chơi đã đặt thì Á phải trả số tiền gấp đôi, nếu xuất hiện 03 hình thì Á phải trả số tiền gấp ba cho người thắng), nếu người chơi đặt không khớp với hình trên hột “Bầu cua” do Á xóc thì Á sẽ thắng số tiền trên (những người chơi sẽ thắng thua trực tiếp với Á). Mỗi ván chơi, mỗi người sẽ đặt từ 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng) đến 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Quá trình đánh bạc, T, Á, N1 và H3 không nhớ rõ đã chơi cụ thể bao nhiêu ván chỉ xác định số tiền, cụ thể như sau:
- - Ái sử dụng 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) dùng để đánh bạc (Trong đó tiền của Á là 8.000.000 đồng, N1 góp cho Á 4.000.000 đồng và Lê Thị T7 góp 8.000.000 đồng. Sau khi đánh bạc, Á đã thắng được 18.500.000 đồng (mười tám triệu năm trăm nghìn đồng). Á đã đưa lại cho T7 16.000.000 đồng gồm cả tiền thắng bạc và tiền gốc T7 đưa, Á cho T 1.000.000 đồng do T là chủ nhà để mua thức ăn, nước uống. Số tiền 21.500.000 đồng còn lại (hai mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng) Á cất giữ gồm tiền gốc và tiền thắng bạc (Á chưa trả tiền cho N1).
- - T sử dụng số tiền 11.000.000 đồng (mười một triệu đồng) để đánh bạc và đã thua hết 9.200.000 đồng.
- - Nguyên sử dụng 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng) để đánh bạc. Trong đó 12.000.000 đồng N1 dùng trực tiếp đánh bạc, 4.000.000 đồng góp chung với Á. Quá trình tự đánh bạc, N1 thua hết 10.400.000 đồng.
- - H3 sử dụng 1.100.000 đồng (một triệu một trăm nghìn đồng) để đánh bạc, H3 đã thắng được 1.100.000 đồng (một triệu một trăm nghìn đồng).
Ngoài ra còn xác định được Nguyễn Thị C4 không trực tiếp tham gia đánh bạc, nhưng đã cho T7 mượn 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) để T7 góp tiền cho Á. Sau khi nhận tiền thắng bạc từ Á, T7 đã trả lại cho C4 2.000.000 đồng và đưa cho C4 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) là tiền thu lợi từ việc góp tiền cho Á đánh bạc.
Đến khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày, sau khi nghỉ chơi “Bầu cua”, thì Y, T và Á chơi lắc “Tài xỉu”, Y sử dụng 01 bộ lắc tài xỉu để làm cái do Y mang đến để những người tham gia sẽ đặt tiền với cách thức: Y sử dụng 03 (ba) hột xí ngầu, mỗi hột có 06 (sáu) mặt, mỗi mặt đều có nút thứ tự từ 01 đến 06, một tấm bìa giấy cứng ghi chữ “Tài” – “Xỉu” để người chơi đặt tiền vào. Khi chơi Y sẽ cho 03 (ba) hột xí ngầu vào đĩa, đậy kín và xóc lên để cho những người tham gia đặt tiền vào chữ “T” hoặc “Xỉu”. Sau đó, Y sẽ mở nắp nhựa ra, nếu điểm số trên mặt ngửa của ba hột xí ngầu cộng lại từ 04 đến 10 thì bên “Xỉu” thắng, còn số điểm từ 11 đến 17 thì bên “Tài” thắng. Trường hợp nếu lắc được cả ba hột xí ngầu có cùng một mặt giống nhau gọi là “Bão”, trường hợp ba hột xí ngầu giống nhau có số từ 03 trở xuống thì Yên hòa với bên “Xỉu”, thắng bên “T” và ngược lại nếu ba hột xí ngầu giống nhau có số từ 04 trở lên thì Yên hòa với bên “T”, thắng bên “Xỉu”. Khi Y tham gia làm cái thì có Thiệu ngồi giúp Y kiểm soát việc đặt tiền và chung, chi cho những người thắng, thua. Mỗi ván chơi, mỗi người sẽ đặt từ 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) đến 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng). Quá trình lắc tài xỉu, các bị cáo không nhớ cụ thể đã chơi bao nhiêu ván, chỉ xác định Y đã thắng “Bão” 01 (một) ván được 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) và đã cho T 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) (do T là chủ nhà). Trong lúc cả bọn đang chơi thì đến khoảng 20 giờ 45 phút bị phát hiện, bắt quả tang. Số tiền cụ thể Y, T và Á sử dụng chơi “Tài xỉu” cụ thể:
- - Y mang theo 10.850.000 đồng (mười triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng) và sử dụng hết 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để đánh bạc.
- - T sử dụng 2.800.000 đồng (hai triệu tám trăm nghìn đồng) để đánh bạc và thắng được 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm nghìn đồng).
- - Á dùng 21.500.000 đồng (hai mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng) là tiền đã chơi “Bầu cua” còn lại để tiếp tục chơi “T xỉu” và bị thua 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng gồm:
- - 01 (một) bộ dụng cụ lắc “Tài xỉu” gồm: 01 (một) đĩa sứ (đã bị vỡ); 01 (một) nắp nhựa; 03 (ba) hột xí ngầu và 01 (một) tấm bìa giấy cứng (bìa carton) ghi chữ “T” – “Xỉu” là công cụ dùng để đánh bạc với hình thức lắc “Tài xỉu”.
- - 01 (Một) bộ dụng cụ lắc “Bầu cua” gồm: 03 (ba) khối lập phương làm bằng giấy trên mặt có để hình bầu, cua, nai, tôm, cá, gà; 01 (một) đĩa nhôm; 01 (một) nắp chụp bằng giấy màu hồng và 01 (một) tờ giấy có in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai làm chiếu bạc là công cụ dùng để đánh bạc với hình thức lắc “Bầu cua”
- - Số tiền 54.100.000 đồng (năm mươi tư triệu một trăm nghìn đồng) gồm:
- + Thu giữ trên chiếu bạc 7.300.000 đồng (bảy triệu ba trăm nghìn đồng) khi lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang.
- + Thu giữ số tiền 20.900.000 đồng (hai mươi triệu chín trăm nghìn đồng) trên người các bị cáo dùng đánh bạc. Cụ thể: Nguyễn Văn N1 1.600.000 đồng (một triệu sáu trăm nghìn đồng), Mai Văn H3 2.200.000 đồng (hai triệu hai trăm nghìn đồng), Nguyễn Thế T 5.300.000 đồng (năm triệu ba trăm nghìn đồng), Đoàn Văn Á 2.800.000 đồng (hai triệu tám trăm nghìn đồng), Trần Thế T4 9.000.000 đồng (chín triệu đồng).
- + Số tiền 25.900.000 đồng (hai mươi lăm triệu chín trăm nghìn đồng) không thu giữ được do các bị cáo đã vứt khi bị bắt. Cụ thể: Lê Thị T7 vứt 13.800.000 đồng (mười ba triệu tám trăm nghìn đồng), Nguyễn Thị C4 vứt 2.200.000 đồng (hai triệu hai trăm nghìn đồng), Đoàn Văn Á vứt 9.900.000 đồng (chín triệu chín trăm nghìn đồng).
- - Số tiền 4.650.000 đồng (bốn triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ của Nguyễn Thái Trường Vĩnh Y1 850.000 đồng (tám trăm năm mươi nghìn đồng), Trần Thế T4 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), Nguyễn Văn T9 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho Y1, T4, T9 do không dùng vào việc đánh bạc.
- - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại các tài sản tạm giữ khi lập biên bản bắt quả tang cho chủ sở hữu do không liên quan đến việc phạm tội gồm:
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 20 màu vàng hồng, số seri: RF8N80K663E, số Imei 350247871723147 thu giữ từ Nguyễn Thế T.
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Exciter 150 màu xanh, biển số: 59E1 – 57178, 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu xám, số I: 350472595044410; 01 (Một) điện thoại Nokia màu đen hiệu TA-1400, số I: 369962645408617; 01 (Một) điện thoại Nokia màu đen hiệu TA-1235, số I: 350085539109683 thu giữ từ Đoàn Văn Á.
- + 01 (một) xe ô tô Innova biển số 60A - 896.64 thu giữ của Nguyễn Thái Trường Vĩnh Y1 là tài sản của chị Nguyễn Lộc T2 (vợ của Y1), chị T2 không biết Y1 lấy xe trên đi đánh bạc; 01 (một) điện thoại di động Iphone 7 plus, số I: 355840085122836 thu giữ từ Y.
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs max màu vàng, số I: 353097103759253 thu giữ từ Trần Thế T4.
- + 01 (một) điện thoại di động Nokia màu đen hiệu TA-1174 số Imei: 40001703 thu giữ từ Nguyễn Văn T9.
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead biển số 60H5 - 265.60 thu giữ từ Lê Thị T7 là tài sản của anh Phạm Minh C3 (chồng của T7), anh C3 không biết việc T7 lấy xe trên đi đánh bạc. 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 màu xanh đen, số Imei: 353895106518620 thu giữ từ Lê Thị T7 là tài sản của chị Phạm Thị Thúy K1. Chị K1 cho T7 mượn điện thoại sử dụng, không biết T7 sử dụng vào mục đích phạm tội.
- + 01 (một) điện thoại di động S A70, số Imei 1 355915104108899, số Imei 2 355916104108897 thu giữ từ Nguyễn Văn N1.
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A55 màu đen, số I: 866787058001996 thu giữ từ Mai Văn H3.
- + 01 (một) điện thoại di động Samsung A2 màu đen, số Imei: 358475776773709 thu giữ từ Nguyễn Thị C4.
- - Đối với 01 (một) điện thoại di động không rõ nhãn hiệu của Nguyễn Thế T đã sử dụng để liên lạc với T7 để đánh bài, T khai đã bị thất lạc, không tìm thấy khi bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiến hành bắt quả tang.
Tại bản Cáo trạng số: 630/CT-VKSBH ngày 24 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo Nguyễn Thế T, Đoàn Văn Á, Nguyễn Thái Trường V, Nguyễn Văn N1, Mai Văn H3, Trần Thế T4, Lê Thị T7 và Nguyễn Thị C4 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- - Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt tiền bị cáo Nguyễn Thế T từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”.
- - Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt tiền đối với các bị cáo:
- + Bị cáo Đoàn Văn Á từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”.
- + Bị cáo Nguyễn Văn N1 từ 45.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”.
- + Bị cáo Nguyễn Thái Trường Vĩnh Y1 từ 45.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”.
- + Bị cáo Lê Thị T7 từ 40.000.000 đồng đến 45.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”.
- + Bị cáo Mai Văn H3 từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”.
- + Bị cáo Nguyễn Thị C4 từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”.
- - Khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Thế T4 từ 06 đến 08 tháng tù về tội “Đánh bạc”.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tuyên:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ dụng cụ lắc “Bầu cua” gồm: 03 (ba) khối lập phương làm bằng giấy trên mặt có để hình trái bầu, con cua, con nai, con tôm, con cá, con gà; 01 (một) đĩa nhôm; 01 (một) nắp chụp bằng giấy màu hồng và 01 (một) tờ giấy có in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai là công cụ dùng để đánh bạc.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) bộ dụng cụ lắc “Tài xỉu” gồm: 01 (một) đĩa sứ (đã bị vỡ); 01 (một) nắp nhựa; 03 (na) hột xí ngầu và 01 (một) tấm bìa giấy cứng (bìa carton) ghi chữ “T” – “Xỉu” là công cụ dùng để đánh bạc;
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước tổng số tiền 28.200.000 đồng (hai mươi tám triệu hai trăm nghìn đồng) là tiền dùng để đánh bạc gồm: 7.300.000 đồng (bảy triệu ba trăm nghìn đồng) thu trên chiếu bạc và tổng số tiền 20.900.000 đồng (hai mươi triệu chín trăm nghìn đồng) trên người các bị cáo dùng đánh bạc.
Tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến tranh luận, thống nhất với bản cáo trạng và truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Kính mong hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và không ai có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Trên cơ sở khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, các lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có cơ sở xác định: Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 14/5/2023, tại nhà của Nguyễn Thế T tại địa chỉ số E, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, các bị cáo Nguyễn Thế T, Đoàn Văn Á, Nguyễn Văn N1 và Mai Văn H3 đã có hành vi đánh bạc với hình thức lắc “Bầu cua” với tổng số tiền là 44.100.000 đồng (bốn mươi bốn triệu một trăm nghìn đồng).
Đến khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày, Nguyễn Thái Trường Vĩnh Y1, Nguyễn Thế T và Đoàn Văn Á đã có hành vi đánh bạc với hình thức lắc “T xỉu” thì bị bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 7.300.000 đồng (bảy triệu ba trăm nghìn đồng) và số tiền 17.100.000 đồng (mười bảy triệu một trăm nghìn đồng) của các bị cáo Y1, T, Á cất giữ trong người dùng để đánh bạc. Tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc với hình thức lắc “Tài xỉu” là 34.300.000 đồng (ba mươi bốn triệu ba trăm nghìn đồng).
Nguyễn Thế T là người sử dụng 11.000.000 đồng (mười một triệu đồng) để đánh bạc với hình thức lắc “Bầu cua” và tiếp tục sử dụng 2.800.000 đồng (hai triệu tám trăm nghìn đồng) để đánh bạc với hình thức lắc “Tài xỉu”.
Đoàn Văn Á là người sử dụng số tiền 20.000.000 đồng (bao gồm của Á 8.000.000 đồng, N1 góp 4.000.000 đồng, T7 góp 8.000.000 đồng để đánh bạc với hình thức lắc “Bầu cua” và tiếp tục sử dụng 21.500.000 đồng (hai mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng) để đánh bạc với hình thức lắc “Tài xỉu”.
Nguyễn Thái Trường Vĩnh Y1 là người sử dụng 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để đánh bạc lắc tài xỉu.
Nguyễn Văn N1 là người sử dụng 16.000.000 đồng để đánh bạc (N1 sử dụng trực tiếp 12.000.000 đồng để chơi bầu cua, góp Ái 4.000.000 đồng).
Mai Văn H3 là người sử dụng 1.100.000 đồng (một triệu một trăm nghìn đồng) để đánh bạc với hình thức lắc bầu cua.
Lê Thị T7 là người sử dụng 8.000.000 đồng (tám triệu đồng) với hình thức góp chung cho Á để đánh bạc với hình thức lắc bầu cua và thu lợi 8.000.000 đồng từ việc góp tiền đánh bạc với Á.
Trần Thế T4 là người giúp sức cho Y1 thực hiện hành vi đánh bạc với hình thức lắc tài xỉu.
Nguyễn Thị C4 là người giúp sức cho T7 thực hiện hành vi đánh bạc với hình thức cho T7 mượn 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) và nhận số tiền 200.000 đồng từ việc cho T7 mượn tiền góp cho Á.
Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thế T, Đoàn Văn Á, Nguyễn Thái Trường Vĩnh Y1, Nguyễn Văn N1, Mai Văn H3, Trần Thế T4, Lê Thị T7 và Nguyễn Thị C4 như đã nêu trên, đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Từ những căn cứ trên, xét thấy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Các bị cáo là người đã trưởng thành đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng ham lợi và xem thường pháp luật nên các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trật tự công cộng, góp phần làm gia tăng tệ nạn xã hội, ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa của nhân dân.
[3] Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải. Riêng các bị cáo Nguyễn Thế T, Đoàn Văn Á, Nguyễn Thái Trường V, Nguyễn Văn N1, Mai Văn H3, Lê Thị T7 và Nguyễn Thị C4 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Các bị cáo Đoàn Văn Á, Nguyễn Thái Trường Vĩnh Y1, Nguyễn Văn N1, Mai Văn H3, Lê Thị T7 và Nguyễn Thị C4 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Vì vậy áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 khi lượng hình đối với các bị cáo Đoàn Văn Á, Nguyễn Thái Trường Vĩnh Y1, Nguyễn Văn N1, Mai Văn H3, Lê Thị T7 và Nguyễn Thị C4; áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 khi lượng hình đối với bị cáo T; áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 khi lượng hình đối với bị cáo T4.
[4] Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, vai trò của từng bị cáo được xác định như sau:
Bị cáo Nguyễn Thế T có vai trò cung cấp địa điểm. Đồng thời trực tiếp đánh bạc với số tiền 11.000.000 đồng với hình thức lắc “Bầu cua” và tiếp tục sử dụng 2.800.000 đồng (hai triệu tám trăm nghìn đồng) để đánh bạc với hình thức lắc “Tài xỉu” nên bị cáo T giữ vai trò chính trong vụ án.
Các bị cáo Đoàn Văn Á, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Thái Trường Vĩnh Y1 đều trực tiếp tham gia đánh bạc. Đoàn Văn Á sử dụng số tiền 20.000.000 đồng (bao gồm 8.000.000 đồng của Á, N1 góp 4.000.000 đồng, T7 góp 8.000.000 đồng) để đánh bạc với hình thức lắc “Bầu cua” và tiếp tục sử dụng 21.500.000 đồng (hai mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng) từ tiền chơi bầu cua để tiếp tục đánh bạc với hình thức lắc “Tài xỉu”. Bị cáo N1 sử dụng 16.000.000 đồng để đánh bạc (Trong đó bị cáo N1 sử dụng 12.000.000 đồng để chơi bầu cua và góp cho Á 4.000.000 đồng). Bị cáo Y1 sử dụng số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để đánh bạc với hình thức lắc tài xỉu. Nên xác định vai trò của bị cáo Á cao hơn bị cáo N1, Y1. Vai trò của bị cáo N1 và Y1 ngang nhau.
Bị cáo Mai Văn H3 trực tiếp đánh bạc với hình thức chơi bầu cua với số tiền 1.100.000 đồng. Bị cáo Lê Thị T7 không trực tiếp đánh bạc nhưng sử dụng số tiền lớn là 8.000.000 đồng góp chung với Á để Á đánh bạc và thu lợi từ việc góp tiền cho Á đánh bạc. Vì vậy, xác định vai trò bị cáo T7 cao hơn bị cáo H3.
Bị cáo Nguyễn Thị C4 không trực tiếp đánh bạc, giúp sức cho T7 thực hiện hành vi đánh bạc với hình thức cho T7 mượn 2.000.000 đồng và nhận số tiền 200.000 đồng từ việc cho T7 mượn tiền để góp cho Á đánh bạc. Bị cáo Trần Thế T4 không trực tiếp đánh bạc, không sử dụng tiền để đánh bạc, tham gia với vai trò giúp sức cho bị cáo Y1 chung tiền cho các bị cáo khác. Nên xác định vai trò của bị cáo C4 và bị cáo T4 ngang nhau.
Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ hành vi, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò và số tiền sử dụng vào việc đánh bạc của từng bị cáo, nhận thấy:
Các bị cáo Đoàn Văn Á, Nguyễn Thái Trường V, Nguyễn Văn N1, Mai Văn H3, Lê Thị T7 và Nguyễn Thị C4 có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo ăn năn hối cải trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù để cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, chỉ cần áp dụng Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt tiền đối với các bị cáo Đoàn Văn Á, Nguyễn Thái Trường Vĩnh Y1, Nguyễn Văn N1, Mai Văn H3, Lê Thị T7 và Nguyễn Thị C4 cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung, tạo điều kiện cho các bị cáo sửa chữa sai lầm, phấn đầu trở thành công dân có ích cho xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với những người phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có thái độ thành khẩn khai báo ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình.
Bị cáo T có nhân thân từng bị Trưởng Công an phường T, thành phố B xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000đ về hành vi “Đánh bạc”. Bị cáo đã chấp hành xong quyết định xử phạt này vào ngày 16/10/2015. Trong vụ án này, bị cáo có vai trò chính nhưng quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Đây là lần đầu tiên bị cáo phạm tội và phạm tội ít nghiêm trọng. Trong thời gian tại ngoại, bị cáo không vi phạm gì thể hiện bị cáo có khả năng tự cải tạo bản thân, sửa chữa sai lầm tốt nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt tiền đối với bị cáo T với mức phạt tiền cao cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung. Điều này thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với những người phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có thái độ thành khẩn khai báo ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình.
Đối với bị cáo T4 không trực tiếp sử dụng tiền đánh bạc, thành khẩn khai báo, có vai trò đồng phạm giúp sức trong vụ án nhưng bị cáo T4 có nhân thân xấu nhiều lần bị xét xử, kết án về hành vi đánh bạc. Cụ thể ngày 05/8/2011, bị cáo từng bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt tiền 6.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước tại Bản án số 233/2011/HSST về hành vi đánh bạc. Bị cáo chấp hành xong bản án này lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc và bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 101/2014/HSST ngày 01/7/2014. Lẽ ra, sau khi chấp hành án phạt tù bị cáo phải lấy đó làm bài học răn dạy bản thân, không tham gia đánh bạc với bất cứ vai trò, hình thức nào. Nhưng bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi giúp sức đánh bạc. Điều này thể hiện bị cáo không có khả năng tự cải tạo bản thân. Vì vậy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian cải tạo, sữa chữa sai lầm.
Từ những phân tích trên, nhận thấy phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo T4, hình phạt tiền đối với các bị cáo còn lại. Trong đó, mức phạt tiền đối với bị cáo T phải cao hơn các bị cáo khác. Mức phạt tiền đối với bị cáo Á phải cao hơn bị cáo N1, bị cáo Y1. Mức phạt tiền đối với bị cáo N1 và bị cáo Y1 ngang nhau, cao hơn mức phạt tiền đối với bị cáo T7. Mức phạt tiền đối với bị cáo T7 cao hơn bị cáo H3. Mức phạt tiền đối với bị cáo H3 cao hơn mức phạt tiền đối với bị cáo C4.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 (một) bộ dụng cụ lắc “Tài xỉu” gồm: 01 (một) đĩa sứ (đã bị vỡ); 01 (một) nắp nhựa; 03 (ba) hột xí ngầu và 01 (một) tấm bìa giấy cứng (bìa carton) ghi chữ “T” – “Xỉu” và 01 (Một) bộ dụng cụ lắc “Bầu cua” gồm: 03 (ba) khối lập phương làm bằng giấy trên mặt có để hình bầu, cua, nai, tôm, cá, gà; 01 (một) đĩa nhôm; 01 (một) nắp chụp bằng giấy màu hồng và 01 (một) tờ giấy có in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai làm chiếu bạc là công cụ dùng để đánh bạc nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với số tiền thu giữ trên chiếu bạc 7.300.000 đồng (bảy triệu ba trăm nghìn đồng) và số tiền 20.900.000 đồng (hai mươi triệu chín trăm nghìn đồng) trên người các bị cáo dùng đánh bạc. Cụ thể: Nguyễn Văn N1 1.600.000 đồng (một triệu sáu trăm nghìn đồng), Mai Văn H3 2.200.000 đồng (hai triệu hai trăm nghìn đồng), Nguyễn Thế T 5.300.000 đồng (năm triệu ba trăm nghìn đồng), Đoàn Văn Á 2.800.000 đồng (hai triệu tám trăm nghìn đồng), Trần Thế T4 9.000.000 đồng (chín triệu đồng) cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- - Đối với số tiền 25.900.000 đồng (hai mươi lăm triệu chín trăm nghìn đồng) các bị cáo đã vứt khi bị bắt. Cụ thể: Lê Thị T7 vứt 13.800.000 đồng (mười ba triệu tám trăm nghìn đồng), Nguyễn Thị C4 vứt 2.200.000 đồng (hai triệu hai trăm nghìn đồng), Đoàn Văn Á vứt 9.900.000 đồng (chín triệu chín trăm nghìn đồng) không thu giữ được.
- - Đối với số tiền 4.650.000 đồng (bốn triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ của Nguyễn Thái Trường Vĩnh Y1 850.000 đồng (tám trăm năm mươi nghìn đồng), Trần Thế T4 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), Nguyễn Văn T9 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho Y1, T4, T9 do không dùng vào việc đánh bạc là phù hợp.
- - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại các tài sản tạm giữ khi lập biên bản bắt quả tang cho chủ sở hữu do không liên quan đến việc phạm tội là phù hợp gồm:
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 20 màu vàng hồng, số seri: RF8N80K663E, số Imei 350247871723147 thu giữ từ Nguyễn Thế T.
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Exciter 150 màu xanh, biển số: 59E1 – 57178, 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu xám, số I: 350472595044410; 01 (Một) điện thoại Nokia màu đen hiệu TA-1400, số I: 369962645408617; 01 (Một) điện thoại Nokia màu đen hiệu TA-1235, số I: 350085539109683 thu giữ từ Đoàn Văn Á.
- + 01 (một) xe ô tô Innova biển số 60A - 896.64 thu giữ của Nguyễn Thái Trường Vĩnh Y1 là tài sản của chị Nguyễn Lộc T2 (vợ của Y1), chị T2 không biết Y1 lấy xe trên đi đánh bạc; 01 (một) điện thoại di động Iphone 7 plus, số I: 355840085122836 thu giữ từ Y.
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs max màu vàng, số I: 353097103759253 thu giữ từ Trần Thế T4.
- + 01 (một) điện thoại di động Nokia màu đen hiệu TA-1174 số Imei: 40001703 thu giữ từ Nguyễn Văn T9.
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead biển số 60H5 - 265.60 thu giữ từ Lê Thị T7 là tài sản của anh Phạm Minh C3 (chồng của T7), anh C3 không biết việc T7 lấy xe trên đi đánh bạc. 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 màu xanh đen, số Imei: 353895106518620 thu giữ từ Lê Thị T7 là tài sản của chị Phạm Thị Thúy K1. Chị K1 cho T7 mượn điện thoại sử dụng, không biết T7 sử dụng vào mục đích phạm tội.
- + 01 (một) điện thoại di động S A70, số Imei 1 355915104108899, số Imei 2 355916104108897 thu giữ từ Nguyễn Văn N1.
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A55 màu đen, số I: 866787058001996 thu giữ từ Mai Văn H3.
- + 01 (một) điện thoại di động Samsung A2 màu đen, số Imei: 358475776773709 thu giữ từ Nguyễn Thị C4.
- - Đối với 01 (một) điện thoại di động không rõ nhãn hiệu của Nguyễn Thế T đã sử dụng để liên lạc với T7 để đánh bài, T khai đã bị thất lạc, không tìm thấy khi bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiến hành bắt quả tang.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/11/2023 và biên lai thu tiền số 0003002 ngày 23/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).
[6] Về vấn đề khác: Nguyễn Văn T9, Ong Tuyết H4 và Nguyễn Văn T10 đến nhà T chơi, ngồi xem nhưng không tham gia đánh bạc, do đó không xử lý hình sự đối với Tiềm, T10, H4.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về các vấn đề trong vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
- - Bị cáo Đoàn Văn Á: 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
- - Bị cáo Nguyễn Văn N1: 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng).
- - Bị cáo Nguyễn Thái Trường Vĩnh Y1: 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng).
- - Bị cáo Lê Thị T7: 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).
- - Bị cáo Mai Văn H3: 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
- - Bị cáo Nguyễn Thị C4: 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- + 01 (một) bộ dụng cụ lắc “Bầu cua” gồm: 03 (ba) khối lập phương làm bằng giấy trên mặt có để hình trái bầu, con cua, con nai, con tôm, con cá, con gà; 01 (một) đĩa nhôm; 01 (một) nắp chụp bằng giấy màu hồng và 01 (một) tờ giấy có in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai
- + 01 (Một) bộ dụng cụ lắc “Tài xỉu” gồm: 01 (một) đĩa sứ (đã bị vỡ); 01 (một) nắp nhựa; 03 (na) hột xí ngầu và 01 (một) tấm bìa giấy cứng (bìa carton) ghi chữ “T” – “Xỉu".
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
- Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Tuyên bố bị cáo Trần Thế T4 phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Trần Thế T4 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính ngày bị cáo vào trại chấp hành án trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/5/2023 đến ngày 24/5/2023.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế T phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế T: 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng).
Tuyên bố các bị cáo Đoàn Văn Á, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Thái Trường Vĩnh Y1, Mai Văn H3, Lê Thị T7, Nguyễn Thị C4 phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt:
- Tịch thu tiêu hủy gồm:
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).
- Sung vào Ngân sách nhà nước số tiền 28.200.000 đồng (hai mươi tám triệu hai trăm nghìn đồng) gồm: 7.300.000 đồng (bảy triệu ba trăm nghìn đồng) thu trên chiếu bạc và tổng số tiền 20.900.000 đồng (hai mươi triệu chín trăm nghìn đồng) trên người các bị cáo dùng đánh bạc.
(Số tiền nêu trên được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà theo biên lai thu tiền số 0003002 ngày 23/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).
Buộc các bị cáo Nguyễn Thế T, Đoàn Văn Á, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Thái Trường Vĩnh Y1, Mai Văn H3, Lê Thị T7, Nguyễn Thị C4, Trần Thế T4 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
|
Nơi nhận: - Các bị cáo; - VKSND TP. Biên Hòa; - TAND, VKSND tỉnh Đồng Nai; - THA dân sự TP. Biên Hòa; - Cơ quan CSĐT Công an Tp. Biên Hòa; - Cơ quan THA HS có thẩm quyền; - Sở tư pháp; - Lưu HS, VP. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trần Trúc Thủy |
Bản án số 11/2024/HS-ST ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc
- Số bản án: 11/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thế Tài và đồng phạm đánh bạc
