Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2024/DS-ST

Ngày: 05/01/2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mai

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quản

Ông Võ Văn Tốt

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thịnh - Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng – Kiểm sát viên

Trong ngày 05 tháng 01 năm 2024, tại phòng xử án - Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 503/2022/TLST-DS ngày 17 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1132/2023/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1207/2023/QĐST-DS ngày 07 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Bùi Bích H, sinh năm 1967
  2. Địa chỉ: B V, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Võ Thanh H1, sinh năm 1964

    Địa chỉ: B V, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phan Minh S – Luật sư thuộc Công ty L1 - Đoàn luật sư Thành phố H.

    Địa chỉ: C N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    (Có mặt)

  3. Bị đơn: Công ty cổ phần Q
  4. Địa chỉ: Lô A Công viên phần mềm Q, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Quang T – chức danh: Tổng giám đốc.

    Địa chỉ: F đường H, Khu phố C, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị My L

    Địa chỉ: 3 N, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    (Vắng mặt)

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  6. Ông Võ Thanh H1, sinh năm: 1964

    Địa chỉ: B V, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, tại bản tự khai, biên bản ghi nhận không tiến hành hoà giải được, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tại phiên tòa ông Võ Thanh H1 - đại diện nguyên đơn trình bày:

Vợ chồng ông Võ Thanh H1 và bà Bùi Bích H có con trai tên Võ Hoàng M sinh ngày 01/01/2003. Ông H1 bà H cho cháu Minh h tại Trường THPT Q1. Ngày 09/7/2015, bà Bùi Bích H và Trường Trung học phổ thông Q1 (Chi nhánh Công ty Cổ Phần Q - trực thuộc Công ty Cổ Phần Q) có ký kết Hợp đồng đào tạo miễn học phí số 152-15/QTM/HĐĐT được Phòng C Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận số công chứng 017004, quyển số 07 và Hợp đồng vay vốn số 152-15/QTM-HĐVV được Phòng C Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận số công chứng 016996, quyển số 07. Theo đó, bà H cho Trường trung học phổ thông Q1 (sau đây gọi là T1) vay số tiền 2.620.800.000 đồng tương đương 120.000 USD, không tính lãi suất trong suốt thời gian học sinh (cháu M) tham gia Chương trình đào tạo chính khóa tại T (tức là Trường C1 và miễn học phí cho cháu M trong suốt thời gian cháu Minh h tại T1 kể từ năm học 2015-2016). Thời hạn vay: kể từ ngày Trường Q1 nhận được toàn bộ số tiền vay đến ngày học sinh chấm dứt Chương trình đào tạo chính khóa tại trường Q1 (theo khoản 4.1 Điều 4 của Hợp đồng vay vốn thì T1 có nghĩa vụ hoàn trả số tiền vay cho bà H trong thời hạn 30 ngày kể từ khi cháu M học học hết lớp 12 và hoàn tất thủ tục chấm dứt Chương trình đào tạo chính khóa của T1).

Cùng ngày 09/7/2015, bà H và T1 ký kết Phụ lục hợp đồng số 152-15/QTM/HĐVV-PLHĐ. Theo đó, hai bên thỏa thuận, thống nhất điều chỉnh số tiền bà H cho T1 vay theo Điều 1 của “Hợp đồng vay vốn” từ số tiền đồng Việt Nam tương đương 120.000 USD (Một trăm hai mươi ngàn đô la Mỹ) và điều chỉnh số tiền T1 phải hoàn trả cho bà H theo Điều 1 của “Hợp đồng vay vốn” thành số tiền đồng Việt Nam tương đương 120.000 USD (Một trăm hai mươi ngàn đô la Mỹ) theo giá bán của Hội sở chính Ngân hàng TMCP N tại thời điểm T1 hoàn trả cho bà H.

Ngày 06/7/2015, T1 đã nhận số tiền 2.619.600.000 đồng ($120.000) từ bà H theo Phiếu thu số PT07.15.0011, quyển số 15APT07.

Ngày 30/5/2021, cháu M đã hoàn thành khóa học và được T1 tổ chức Lễ tốt nghiệp ra trường. Sau đó, bà H đã thực hiện hoàn tất các thủ tục, nghĩa vụ có liên quan với T1 và yêu cầu T1 hoàn trả số tiền vay theo thỏa thuận trong Hợp đồng vay nhưng sau nhiều lần đòi tiền thì đến ngày 16/11/2021 T1 hoàn trả 341.250.000 đồng (tương đương 15.000 USD) và ngày 12/5/2022 T1 hoàn trả 347.850.000 đồng (tương đương 15.000 USD). Như vậy, T1 mới hoàn trả cho bà Hằng số tiền 689.100.000 đồng (tương đương 30.000 USD).

Việc T1 chậm trả tiền đã vi phạm hợp đồng đã ký kết, ảnh hưởng đến nguồn tài chính học đại học của cháu M nên bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Tuyên hủy hợp đồng vay vốn số 152-15/QTM/HĐVV ngày 09/7/2015 và phụ lục của hợp đồng vay vốn số 152-15/QTM/HĐVV-PLHĐ ngày 09/7/2015 giữa bên A (bên vay) là Trường THPT Q1 (Chi nhánh Công ty cổ phần Q) với bên B (bên cho vay) là bà Bùi Bích H.
  • Buộc Công ty cổ phần Q phải trả cho bà Hằng số tiền tính đến ngày 14/9/2022 là 2.566.808.000 đồng.

Tại Bản tự khai ngày 14/8/2023 và biên bản ghi nhận không tiến hành hòa giải được ngày 09/8/2023, nguyên đơn và đại diện nguyên đơn trình bày: căn cứ văn bản số 07/11/KT-QTM/21 ngày 17/11/2021 về việc cam kết hoàn trả gói đầu tư của Trường Q1 thì T1 còn nợ bà H 105.000 USD (Một trăm lẻ năm ngàn đô la Mỹ) và cam kết trả theo thời gian như sau: Đợt 01: chậm nhất ngày 10/12/2021 trả 45.000 USD (Bốn mươi lăm ngàn đô la Mỹ); Đợt 2: chậm nhất ngày 14/01/2022 trả 60.000 USD (Sáu mươi ngàn đô la Mỹ). Nếu hoàn trả không đúng ngày 10/12/2021 số tiền 45.000 USD thì sẽ bị phạt 0.05%/ngày trên tổng số tiền hoàn trả là 105.000 USD; nếu hoàn trả không đúng ngày 14/01/2022 thì sẽ bị phạt 0.05%/ngày trên tổng số tiền còn thiếu. Tiền hoàn trả được áp dụng theo tỷ giá bán của Hội sở chính Ngân hàng TMCP N tại thời điểm thanh toán. Tuy nhiên, T1 không thực hiện đúng như cam kết nên nguyên đơn yêu cầu:

  • Tuyên chấm dứt Hợp đồng vay vốn số 152-15/QTM/HĐVV ngày 09/7/2015 và phụ lục của hợp đồng vay vốn số 152-15/QTM/HĐVV-PLHĐ ngày 09/7/2015 giữa bên A (bên vay) là Trường THPT Q1 (Chi nhánh Công ty cổ phần Q) với bên B (bên cho vay) là bà Bùi Bích H.
  • Buộc Công ty cổ phần Q phải trả cho bà Hằng số tiền tính đến ngày 14/9/2022 là 2.566.808.000 đồng.

Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn trình bày: tại văn bản số 07/11 KT-QTM/21 ngày 17/11/2021 về cam kết trả gói đầu tư của Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Quốc Tế M do bà Trần Thị Thúy H2 – Trưởng phòng kế toán ký thì T1 cam kết thời gian hoàn trả số tiền 105.000 USD chia thành 02 đợt: đợt 01 chậm nhất ngày 10/12/2021 trả 45.000 USD, đợt 02 chậm nhất ngày 14/01/2022 trả 60.000 USD và cam kết nếu hoàn trả không đúng ngày thì sẽ chịu lãi phạt 0.05%/ngày trên tổng số tiền còn thiếu. Tuy nhiên, do bị đơn vắng mặt nên không xác định được văn bản này có phải là ý chí của phía bị đơn hay không và văn bản cam kết này có nội dung thanh toán bằng tiền đô la Mỹ là vi phạm điều cấm của pháp luật nên bị vô hiệu. Do đó, nay nguyên đơn yêu cầu Tòa án:

  • Tuyên chấm dứt hợp đồng vay vốn số 152-15/QTM/HĐVV ngày 09/7/2015 giữa bên A (bên vay) là Trường THPT Q1 (Chi nhánh Công ty cổ phần Q) với bên B (bên cho vay) là bà Bùi Bích H.
  • Tuyên vô hiệu Phụ lục hợp đồng vay vốn số 152-15/QTM/HĐVV-PLHĐ ngày 09/7/2015 giữa bên A (bên vay) là Trường THPT Q1 (Chi nhánh Công ty cổ phần Q) với bên B (bên cho vay) là bà Bùi Bích H.
  • Buộc Công ty cổ phần Q phải trả cho vợ chồng bà Hằng số tiền như sau:
    • Tiền gốc là 1.930.500.000 (Một tỷ chín trăm ba mươi triệu năm trăm ngàn) đồng.
    • Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn theo mức lãi suất 10%/năm kể từ ngày 01/7/2021 đến ngày xét xử (05/01/2024) là 527.114.054 đồng.

Như vậy tổng số tiền gốc và lãi nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tính đến ngày 05/01/2024 là 2.457.614.054 đồng.

Trong bản tự khai bà Phạm Thị My L - đại diện bị đơn trình bày:

Theo hợp đồng vay vốn số 152-15/QTM/HĐVV và Điều 3 của Hợp đồng đào tạo miễn học phí số 152-15/QTM/HĐĐT ngày 09/7/2015 thì “Bên A cung cấp Chương trình đào tạo chính khóa và miễn học phí (không bao gồm các khoản phí khác) cho học sinh trong suốt thời gian học sinh học tại T1 kể từ năm học 2015-2016”. Như vậy, Công ty cung cấp Chương trình đào tạo chính khóa và miễn học phí kể từ năm học 2015 đến năm học 2016. Từ năm 2016 đến năm 2021 Công ty tính học phí đối với học sinh Võ Hoàng M theo quy định về học phí của T1 là 500.000.000 đồng/năm học. Học phí của học sinh Võ Hoàng M từ năm 2016 đến năm 2021 (05 năm) là 2.500.000.000 đồng. Như vậy, Công ty C2 trừ Hợp đồng vay vốn Công ty nợ nguyên đơn 2.070.000.000 đồng thì nguyên đơn còn nợ Công ty 430.000.000 đồng nên Công ty không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn, Công ty yêu cầu nguyên đơn trả Công ty số tiền học phí chưa thanh toán cho Công ty là 430.000.000 đồng.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Thanh H1 trình bày: Số tiền bà H cho T1 vay là tiền chung của vợ chồng ông bà trong thời kỳ hôn nhân. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho vợ chồng ông bà số tiền gốc còn nợ là 1.930.500.000 đồng và tiền lãi trên nợ gốc quá hạn tính từ ngày 01/7/2021 đến ngày xét xử theo mức lãi suất 10%/năm, tương ứng số tiền gốc và lãi là 2.457.614.054 đồng.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn – Luật sư Phan Minh S trình bày: Căn cứ Hợp đồng vay vốn số 152-15/QTM/HĐVV ngày 09/7/2015 giữa bà H với T1 và Phiếu thu số PT07.15.0011, quyển số 15APT07 ngày 06/7/2015 của T1 và căn cứ vào các lời khai của vợ chồng bà H thể hiện vợ chồng bà có cho T1 vay tổng số tiền 2.619.600.000 đồng, T1 mới trả cho vợ chồng bà Hằng số tiền 689.100.000 đồng, còn lại 1.930.500.000 đồng chưa trả. Do phía bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Việc bị đơn cho rằng Công ty cung cấp Chương trình đào tạo chính khóa và miễn học phí kể từ năm học 2015 đến năm học 2016. Từ năm 2016 đến năm 2021 Công ty tính học phí đối với học sinh Võ Hoàng M theo quy định về học phí của T1 là 500.000.000 đồng/năm học là ngụy biện nhằm chối bỏ trách nhiệm đối với khoản vay của nguyên đơn. Ngay tại Điều 1 của Hợp đồng đào tạo miễn học phí số 152-15/QTM/HĐĐT ngày 09/7/2015 đã quy định: “Bên A cung cấp Chương trình đào tạo chính khóa và miễn học phí (không bao gồm các khoản phí khác) cho học sinh trong suốt thời gian học sinh học tại T1 kể từ năm học 2015-2016. Chương trình đào tạo chính khóa được định nghĩa là chương trình giáo dục phổ thông toàn thời gian đến hết lớp 12”. Như vậy, phía bị đơn không thể nại ra lý do chỉ miễn học phí cho học sinh Võ Hoàng M kể từ năm học 2015 đến năm học 2016, còn từ năm 2016 đến năm 2021 bị đơn sẽ tính học phí đối với học sinh Võ Hoàng M để trì hoãn, chối bỏ trách nhiệm đối với khoản tiền vay của nguyên đơn. Mặt khác, bị đơn chỉ đưa ra ý kiến, không có đơn yêu cầu phản tố, không đưa ra tài liệu chứng cứ, chứng minh và không đóng tạm ứng án phí nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Bà Phạm Thị My L - đại diện bị đơn Công ty cổ phần Q vắng mặt tại phiên tòa.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12 phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền vay theo “Hợp đồng vay vốn” được Phòng C Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận số công chứng 016996, quyển số 07 ngày 09/7/2015 và Phụ lục hợp đồng số 152-15/QTM/HĐVV-PLHĐ ngày 09/7/2015 mà hai bên đã xác lập. Đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”. Bị đơn có địa chỉ trụ sở tại Quận A; vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Toà án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải và triệu tập bị đơn đến Tòa án làm việc, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng đại diện bị đơn chỉ đến Tòa nộp bản tự khai và vắng mặt trong phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, vì vậy việc hoà giải không thể tiến hành được.

Toà án đã tống đạt thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đã tống đạt, triệu tập hợp lệ bị đơn tham gia tố tụng tại phiên toà vào ngày 07/12/2023 và ngày 05/01/2024 nhưng bị đơn Công ty đều vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3]. Về các yêu cầu của đương sự:

Theo trình bày của đại diện nguyên đơn thì sau khi ký Hợp đồng vay vốn tại Phòng C Thành phố Hồ Chí Minh thì hai bên có ký Phụ lục hợp đồng số 152-15/QTM/HĐVV-PLHĐ ngày 09/7/2015 giữa bà H và T1. Trong đó các bên thỏa thuận điều chỉnh số tiền vay từ tiền đồng Việt Nam sang đô la Mỹ. Mục đích ký Phụ lục hợp đồng này là để tránh việc trượt giá của đồng tiền. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 22 Pháp lệnh ngoại hối thì trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các trường hợp được phép theo quy định của Ngân hàng N1. Điều 3 Thông tư số 32/2013/TT-NHNN ngày 26 tháng 12 năm 2013 của Thống đốc Ngân hàng N1 hướng dẫn thực hiện quy định hạn chế sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam (được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 16/2015/TT-NHNN) quy định nguyên tắc hạn chế sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam: Trên lãnh thổ Việt Nam, trừ các trường hợp được sử dụng ngoại hối quy định tại Điều 4 Thông tư này, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác (bao gồm cả quy đổi hoặc điều chỉnh giá hàng hóa, dịch vụ, giá trị của hợp đồng, thỏa thuận) của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối. Do đó, thỏa thuận trong Phụ lục hợp đồng số 152-15/QTM/HĐVV-PLHĐ ngày 09/7/2015 giữa bà H và T1 là vô hiệu do vi phạm điều cấm theo quy định tại Điều 128 Bộ luật dân sự năm 2005. Tuy nhiên, việc phụ lục hợp đồng vô hiệu không ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng vay đã ký nên Hợp đồng vay vốn ngày 09/7/2015 làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với các bên.

Theo công văn trả lời của Phòng Đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H thì Trường Q1 là chi nhánh của Công ty Cổ phần Q. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 92 Bộ luật dân sự năm 2005 và khoản 2 Điều 37 Luật Doanh nghiệp, Công ty Cổ phần Q có nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch do chi nhánh của mình xác lập, thực hiện.

[3.1]. Xét yêu cầu trả tiền gốc của nguyên đơn:

Căn cứ “Hợp đồng vay vốn” số công chứng 016996, quyển số 07 ngày 09/7/2015 lập tại Phòng C Thành phố Hồ Chí Minh và Phiếu thu số PT07.15.0011, quyển số 15APT07 của T1 thể hiện bà H cho T1 vay số tiền 2.619.600.000 đồng.

Tại khoản 4.1 Điều 4 Hợp đồng vay vốn ngày 09/7/2015, T1 cam kết hoàn trả số tiền vay cho bà H trong thời hạn 30 ngày kể từ khi học sinh học hết lớp 12 và hoàn tất thủ tục chấm dứt Chương trình đào tạo chính khóa của T1. Theo tài liệu do nguyên đơn cung cấp thì học sinh Võ Hoàng M được T1 và cấp Bằng tốt nghiệp trung học ngày 29/5/2021 và trao Bằng tốt nghiệp trung học, Chứng nhận đã hoàn thành khóa học ngày 30/5/2021. Như vậy, căn cứ thỏa thuận trên thì bị đơn phải hoàn trả tiền vay cho nguyên đơn chậm nhất vào ngày 30/6/2021. Tuy nhiên, đến ngày 16/11/2021, T1 mới chuyển khoản cho nguyên đơn số tiền 341.250.000 đồng và đến ngày 12/5/2022 chuyển khoản tiếp số tiền 347.850.000 đồng, tổng cộng 02 đợt là 689.100.000 đồng. Như vậy, bị đơn còn nợ nguyên đơn 1.930.500.000 đồng.

Phía bị đơn xác nhận có vay của nguyên đơn tiền và đã trả một phần tiền vay theo trình bày của nguyên đơn, số tiền nợ còn lại bị đơn cấn trừ vào số tiền học phí 05 năm của con nguyên đơn học tại Trường nên bị đơn yêu cầu nguyên đơn phải trả cho bị đơn số tiền học phí 430.000.000 đồng chưa thanh toán. Như vậy, phía bị đơn đã thừa nhận số tiền còn nợ nguyên đơn như trình bày của nguyên đơn. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải hoàn trả số tiền vay còn nợ là 1.930.500.000 đồng là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 471, 474 Bộ luật dân sự năm 2005 và Điều 463, 466, 688 Bộ luật dân sự năm 2015.

[3.2]. Xét yêu cầu trả tiền lãi của nguyên đơn:

Xét thấy, hợp đồng vay đang được các bên thực hiện mà lãi, lãi suất phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 nên căn cứ điểm c khoản 1, điểm c khoản 3 Điều 2 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì nguyên đơn có quyền yêu cầu bị đơn trả tiền lãi trên nợ gốc quá hạn với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Như vậy, bị đơn phải trả cho nguyên đơn tiền lãi như sau:

  • Ngày 16/11/2021, T1 hoàn trả 341.250.000 đồng tiền gốc. Như vậy, số ngày chậm thanh toán từ ngày 01/7/2021 đến ngày 15/11/2021 là 137 ngày, số tiền lãi quá hạn của toàn bộ số tiền 2.619.600.000 đồng là: 2.619.600.000 đồng x 10%/năm x 137 ngày/365 ngày = 98.324.712 đồng.
  • Ngày 12/5/2022, T1 hoàn trả 347.850.000 đồng tiền gốc. Như vậy, số ngày chậm thanh toán từ ngày 16/11/2021 đến ngày 11/05/2022 là 176 ngày, số tiền lãi quá hạn là: (2.619.600.000 đồng - 341.250.000 đồng) x 10%/năm x 176 ngày/365 ngày = 109.860.164 đồng.
  • Từ ngày 12/5/2022 đến ngày xét xử 05/01/2024 là 603 ngày. Số tiền lãi quá hạn là: 1.930.500.000 đồng x 10%/năm x 603 ngày/365 ngày = 318.929.178 đồng.

Như vậy, tổng số tiền lãi trên nợ gốc quá hạn kể từ ngày 01/7/2021 đến ngày xét xử (05/01/2024) theo mức lãi suất 10%/năm là 527.114.054 đồng.

Tại phiên tòa, nguyên đơn xin rút phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc Công ty cổ phần Q phải trả tiền phạt do vi phạm hợp đồng nên Hội đồng xét xử đình chỉ phần yêu cầu này của nguyên đơn.

[3.3]. Xét ý kiến của bị đơn:

Điều 1 Hợp đồng đào tạo miễn học phí số 152-15/QTM/HĐĐT ngày 09/7/2015 quy định: “Bên A cung cấp Chương trình đào tạo chính khóa và miễn học phí (không bao gồm các khoản phí khác) cho học sinh trong suốt thời gian học sinh học tại T1 kể từ năm học 2015-2016. Chương trình đào tạo chính khóa được định nghĩa là chương trình giáo dục phổ thông toàn thời gian đến hết lớp 12”. Phía bị đơn cho rằng bị đơn cung cấp chương trình đào tạo chính khóa và miễn học phí kể từ năm học 2015-2016, còn từ năm học 2016 đến năm 2021 bị đơn tính học phí là không phù hợp với nội dung thỏa thuận tại Điều 1, Điều 3 Hợp đồng đào tạo miễn học phí nêu trên. Mặt khác, sau khi nộp bản khai thì phía bị đơn không đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng không có đơn yêu cầu phản tố, không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh nên yêu cầu tính học phí và cấn trừ học phí của bị đơn Hội đồng xét xử không xem xét.

Từ những phân tích trên, xét yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở và có căn cứ pháp lý nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cần buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 1.930.500.000 (Một tỷ chín trăm ba mươi triệu năm trăm ngàn) đồng và tiền lãi trên nợ gốc quá hạn phát sinh từ ngày 01/7/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm với số tiền là 527.114.054 (Năm trăm hai mươi bảy triệu một trăm mười bốn ngàn không trăm năm mươi bốn) đồng. Như vậy, tổng số tiền gốc và lãi bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn tính đến ngày 05/01/2024 là 2.457.614.054 đồng (Hai tỷ bốn trăm năm mươi bảy triệu sáu trăm mười bốn ngàn không trăm năm mươi bốn) đồng.

[4]. Về án phí:

Công ty cổ phần Q phải chịu 81.152.281 (T2 mươi mốt triệu một trăm năm mươi hai ngàn hai trăm tám mươi mốt) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

H3 lại cho bà Bùi Bích H số tiền tạm ứng 41.668.080 (Bốn mươi mốt triệu sáu trăm sáu mươi tám ngàn không trăm tám mươi) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004887 ngày 17 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 244 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 92, 128, 471, 474 của Bộ luật dân sự năm 2005;

- Căn cứ các Điều 422, 463, 466, 468, 688 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 4, 22 Pháp lệnh ngoại hối;

- Căn cứ Điều 37 Luật Doanh nghiệp;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:
    1. Chấm dứt “Hợp đồng vay vốn” số công chứng 016996, quyển số 07 ngày 09/7/2015 giữa bên A (Trường THPT Q1 Mỹ) với bên B (bà Bùi Bích H) lập tại Phòng C Thành phố Hồ Chí Minh.
    2. Tuyên bố Phụ lục hợp đồng số 152-15/QTM/HĐVV-PLHĐ ngày 09/7/2015 giữa bà Bùi Bích H và Trường THPT Q1 là vô hiệu do vi phạm điều cấm.
    3. Buộc Công ty cổ phần Q phải thanh toán cho vợ chồng bà Bùi Bích H ông Võ Văn H4 số tiền gốc và lãi tính đến ngày 05/01/2024 là 2.457.614.054 đồng (Hai tỷ bốn trăm năm mươi bảy triệu sáu trăm mười bốn ngàn không trăm năm mươi bốn) đồng. Thanh toán ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

1.4. Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Bích H về việc buộc Công ty cổ phần Q phải trả tiền phạt do vi phạm hợp đồng.

  1. Về án phí:

    Công ty cổ phần Q phải chịu 81.152.281 (T2 mươi mốt triệu một trăm năm mươi hai ngàn hai trăm tám mươi mốt) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    H3 lại cho bà Bùi Bích H số tiền tạm ứng 41.668.080 (Bốn mươi mốt triệu sáu trăm sáu mươi tám ngàn không trăm tám mươi) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004887 ngày 17 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

  2. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát cùng cấp;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Q12;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/DS-ST ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 11/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger