Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUYÊN HÓA

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH

Bản án số:11/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 04 - 6 - 2024

“V/v Ly hôn, tranh

chấp về nuôi con”

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Trọng Thủy và bà Trần Thị Phúc Tuệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền, Thư ký viên Tòa án nhân dân

huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên hóa tham gia phiên tòa:

Không.

Trong ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 12/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Hoài T, sinh năm 1993;
  2. Địa chỉ nơi cư trú: Thôn B T, xã T, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt.

  3. Bị đơn: Anh Trần Xuân L, sinh năm 1990;
  4. Địa chỉ nơi cư trú: Thôn X, xã V, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Mặc dù vắng mặt tại phiên tòa, nhưng theo đơn khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con ngày 22/02/2024, biên bản hòa giải và bản tự khai ngày 11/3/2024, nguyên đơn chị Trần Thị Hoài T trình bày: Chị và anh Trần Xuân L yêu nhau và đăng ký kết hôn tự nguyện tại UBND xã V, huyện T, tỉnh Quảng Bình vào ngày 01/8/2017. Sau kết hôn, chị và anh L chung sống tại nhà bố mẹ anh L ở thôn X, xã V, huyện T, tỉnh Quảng Bình. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 02 năm thì đến năm 2019 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân mâu thuẩn do tính tình vợ chồng không hợp nhau, trái ngược nhau về quan điểm sống, anh L đánh đập chị, thường xuyên đánh lô đề dẫn đến nợ nần nên vợ chồng thường cải vã, xích mích nhau, làm tình cảm vợ chồng ngày càng nhạt phai. Vợ chồng sống ly thân nhau từ đầu năm 2021 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Chị xác định tình cảm vợ chồng thực sự không còn nên yêu cầu được ly hôn anh Trần Xuân L.

Về con chung: Chị và anh Trần Xuân L có một con chung Trần An N, sinh ngày 03/8/2021, hiện đang sinh sống cùng chị. Ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng đến khi con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh Trần Xuân L không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Trần Xuân L vắng mặt tại phiên tòa nhưng theo biên bản hòa giải và bản tự khai ngày 11/3/2024, anh trình bày: Về quá trình yêu nhau, kết hôn anh nhất trí như sự trình bày của chị T. Tuy nhiên, về quá trình chung sống, mâu thuẩn của vợ chồng theo anh như sau: Sau kết hôn anh và chị T về chung sống tại nhà bố mẹ anh ở thôn X, xã V, huyện T, tỉnh Quảng Bình, được một thời gian thì thuê phòng trọ ở riêng tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2021 thì chị T chuyển vào sống với nhà bố mẹ đẻ tại huyện L để chuẩn bị sinh con, sau đó làm việc tại Công ty X ở huyện L. Mâu thuẩn vợ chồng xãy ra vào tháng 11 năm 2023, nguyên nhân do nợ nần của bản thân anh. Tuy vợ chồng mỗi người ở một nơi và có mâu thuẩn nhưng anh thường xuyên vào thăm vợ, con và luôn dành tình cảm cho chị T. Nay chị Thương yêu c ly hôn, anh không đồng ý, anh mong muốn đoàn tụ vợ chồng để cùng nhau nuôi dạy con chung.

Về con chung: Anh và chị T có một con chung Trần An N, sinh ngày 03/8/2021, hiện đang sinh sống cùng chị T. Anh mong muốn đoàn tụ vợ chồng nên việc phân chia giao con chung cho ai trực tiếp nuôi dưỡng không đặt ra. Trường hợp nếu ly hôn, anh có nguyện vọng giao con chung cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; anh cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng đến khi con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh và chị T không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Trần Thị Hoài T khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với anh Trần Xuân L là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn anh Trần Xuân L có nơi cư trú tại thôn X, xã V, huyện T, tỉnh Quảng Bình. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, cả nguyên đơn và bị đơn đều có mặt tại Tòa án để tham gia tố tụng. Tuy nhiên, tại phiên tòa, cả nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt trong đó nêu ý kiến của mình đối với việc giải quyết nội dung vụ án và lý do đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Căn cứ các Điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về yêu cầu ly hôn: Theo trình bày của nguyên đơn và bị đơn thì chị Trần Thị Hoài T và anh Trần Xuân L đăng ký kết hôn tự nguyện tại UBND xã V, huyện T, tỉnh Quảng Bình vào ngày 01/8/2017, do đó hôn nhân giữa chị T và anh L là hợp pháp. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được khoảng 02 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, anh L thường xuyên đánh bạc dẫn đến nợ nần nên vợ chồng cải vã, xích mích nhau, anh L không kiềm chế được bản thân nên đã có hành động đánh chị T làm cho mâu thuẩn vợ chồng căng thẳng, phai nhạt tình cảm và sống ly thân nhau từ năm 2021 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Hội đồng xét xử thấy, theo trình bày của nguyên đơn, bị đơn thì mâu thuẩn giữa chị T và anh L đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, qua xem xét, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị T, xử cho chị T được ly hôn anh Trần Xuân L là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về nuôi con chung: Cả nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận vợ chồng có một con chung là Trần An N, sinh ngày 03/8/2021, hiện đang sinh sống cùng chị T. Quá trình giải quyết vụ án, chị Thương yêu c được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, yêu cầu anh L thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng đến khi con đủ 18 tuổi. Anh Trần Xuân L muốn đoàn tụ vợ chồng, tuy nhiên trường hợp nếu ly hôn thì anh đồng ý giao con chung cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng đến khi con đủ 18 tuổi.

Xét thấy, hiện tại con chung Trần An N đang còn nhỏ (chưa đủ 36 tháng tuổi), từ trước đến nay đều do chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy, cần giao cho chị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung nhằm mục đích tạo sự ổn định trong sinh hoạt của con; anh L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng kể từ tháng 7 năm 2024 là phù hợp với điều kiện thực tế của nguyên đơn, bị đơn và phù hợp với Điều 81, 82, 83, 107 và Điều 110 của Luật Hôn nhân và gia đình. Sau này, nếu điều kiện của các bên thay đổi, vì quyền lợi của con chung các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Trong đơn khởi kiện, biên bản hòa giải và bản tự khai, cả nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, bị đơn phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228, Điều 235 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107 và Điều 110 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Xử cho chị Trần Thị Hoài T được ly hôn anh Trần Xuân L.
  2. Về nuôi con chung: Xử giao con chung Trần An N, sinh ngày 03/8/2021 cho chị Trần Thị Hoài T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; anh Trần Xuân L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Trần An N mỗi tháng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), kể từ tháng 7 năm 2024 đến khi con chung đủ 18 tuổi.
  3. Anh Trần Xuân L có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Sau này, vì quyền lợi của con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng và yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

  4. Về án phí:
    1. Án phí ly hôn: Nguyên đơn chị Trần Thị Hoài T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình theo biên lai số 0000029 ngày 22/02/2024 (chị Trần Thị Hoài T đã nộp đủ án phí).
    2. Án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Trần Xuân L phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con để sung vào ngân sách Nhà nước.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Trần Thị Hoài T và bị đơn anh Trần Xuân L vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử lại theo trình tự phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Tuyên Hóa;
  • - TAND tỉnh Quảng Bình; - Chi cục THADS huyện Tuyên Hóa;
  • - UBND xã Văn Hóa (Nơi ĐKKH để ghi vào sổ Hộ tịch);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
  • - Lưu VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Văn Tuấn

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/HNGĐ-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 11/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn Nguyễn Thị Hoài Th và Trần Xuan L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger