Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2026/HS-PT

Ngày: 15/01/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hoài Sơn

Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Long

Ông Ngô Hà Nam

- Thư ký phiên toà ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Chiên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thanh Mai - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 307/2025/TLPT-HS ngày 03/12/2025 đối với bị cáo:

Trần Văn T

- sinh ngày 08/8/2003 tại phường B, thành phố Đà Nẵng; nơi cư trú: khối phố M, phường B, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: nhân viên bán điện thoại; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; con ông Trần Văn Đ (đã chết) và bà Lê Thị Xuân H (sinh năm 1965); bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: ngày 02/7/2021, bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.250.000 đồng về hành vi “Tàng trữ các loại dao nhằm mục đích cố ý gây thương tích". (chưa chấp hành).

Bị cáo ngày bị bắt tạm giam ngày 25/8/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam T - Trại tạm giam số 2, Công an thành phố Đ. Có mặt tại phiên tòa.

- Ngoài ra, còn có 02 (hai) bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 24/12/2024, Bùi Lê Đình N đến quán N4, thuộc khối phố M, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam (nay là phường T, thành phố Đà Nẵng) để nhậu cùng với Trần Văn T và một người bạn của T. Tại đây, N gặp Phan Thị Ly N1 (là bạn quen biết từ trước của N) đang nhậu cùng với một số người bạn của N1. Do có quen biết N1 từ trước nên bàn của N và bàn của N1 có qua mời bia qua lại với nhau để giao lưu. Đến 01 giờ 24 phút ngày 25/12/2024, N thấy bàn nhậu của Phạm Văn H1, Nguyễn Thanh N2, Lê Thành P, Ngô Hồng A và một số người khác nhìn N, nên N nghĩ là những người trong bàn nhậu của H1 nhìn đểu N, N đi thẳng lại bàn nhậu của nhóm H1 dùng tay chỉ vào bàn nhậu của H1 và nói: “địt con mẹ tụi bây, tụi bây muốn nhậu không”. Khi thấy N nói vậy thì một số người trong bàn nhậu của H1 đứng dậy và hai bên bắt đầu có lời qua tiếng lại. Một số người trong quán và nhóm của N can ngăn N ra và đẩy N ra khu vực đất trống bên cạnh quán. H1 và P cũng đi ra theo Nhật. Tại đây, H1 và P đã dùng tay chân đánh nhiều cái vào người N. Một số người có mặt can ngăn H1 và P ra. Sau đó, N đón taxi đi về nhà lấy một cây kiếm mà N đã mua từ trước cất giấu trong nhà rồi quay lại quán N4. N xuống xe taxi, rút bỏ vỏ kiếm và đi lại bàn nhậu của H1. Thấy N cầm kiếm đi tới một số người trong bàn nhậu của H1 đã đứng dậy rời khỏi bàn nhậu chỉ còn lại Lê Thành P, Nguyễn Thanh N2 và Ngô Hồng A. N dùng kiếm chém vào P nhưng P tránh được. N tiếp tục dùng kiếm chém vào P và những người còn lại trong bàn nhậu. P cầm ghế ngồi trong quán vừa đỡ vừa lui, còn Nguyễn Thanh N2 và Ngô Hồng A vừa lui vừa cầm ghế ném vào N để tìm đường chạy thoát thân. Thấy N đuổi chém Lê Thành P, Nguyễn Thanh N2 và Ngô Hồng A thì Phan Thị Ly N1 cầm vỏ chai rượu, Trần Văn T cầm ghế ném vào Lê Thành P, Nguyễn Thanh N2 và Ngô Hồng A nhưng không trúng. Do bị N, T và Ly N1 dùng kiếm, vỏ chai, ghế ném đuổi theo nên Lê Thành P, Nguyễn Thanh N2 và Ngô Hồng A bỏ chạy ra về.

- Tang vật tạm giữ: 01 (một) cây kiếm có tổng chiều dài 92cm bằng kim loại, phần lưỡi sắt nhọn dài 68cm, phần cán cầm tay bằng gỗ có chiều dài 24cm, được cuộn một sợi dây dù màu trắng bên ngoài và có phần chui tròn bảo vệ phía trên tay cầm, vỏ bọc bên ngoài kiếm bằng gỗ màu trắng dài 73cm, do Bùi Lê Đình N giao nộp; 01 (một) đĩa DVD có chứa đoạn Video ghi lại sự việc xảy ra tại quán N4 vào tối ngày 24/12/2024.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 105/KLTTCT-TTPY, ngày 26/3/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh Q, xác định tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bùi Lê Đình N tại thời điểm giám định là 01% (một phần trăm).

Tại bản Kết luận giám định số 485/KL-KTHS, ngày 29/4/2025 của Phân viện khoa học Hình sự tại thành phố Đà Nẵng, kết luận cây kiếm mà Bùi Lê Đình N sử dụng nêu trên thuộc Phụ lục 3, danh mục vũ khí thô sơ theo Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C.

Ngày 25/12/2024, ông Trần Xuân H2, ông Phan Thanh L, bà Nguyễn Thị Diệu H3, ông Trần Văn L1 (cùng trú tại khối phố M, phường T, thành phố Đà Nẵng) là những chủ nhà, chủ những hàng quán trước và bên cạnh quán N4 và ông Bùi Văn H4 là chủ quán O và Ủy ban nhân dân phường A (nay là phường T) có đơn trình báo về việc gây gỗ đánh nhau tại quán N4 làm ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của các hộ dân đang sinh sống trên tuyến đường N và địa bàn phường A. Đồng thời Ủy ban nhân dân phường A kiến nghị xem xét xử lý nghiêm.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2025/HS-ST ngày 29/10/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”;

- Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

+ Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 25/8/2025).

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh, điều luật, mức hình phạt đối với các bị cáo Bùi Lê Đình N và Phạm Thị Ly N3; xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 03/11/2025, bị cáo Trần Văn T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Trần Văn T thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như bản án sơ thẩm đã kết luận; Bị cáo giữ nguyên kháng cáo và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục: Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Văn T có đầy đủ nội dung theo thủ tục kháng cáo và trong thời hạn nên đảm bảo hợp lệ.

Về nội dung kháng cáo: Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2025/HS-ST ngày 29/10/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng đã xét xử bị cáo Trần Văn T về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội. Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, xử phạt mức hình phạt tù đối với bị cáo là phù hợp. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có tình tiết giảm nhẹ nào mới, do đó đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên mức án tại bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Vào khoảng 01 giờ 24 phút ngày 25/12/2024, tại quán N4 thuộc khối phố M, phường T, thành phố Đà Nẵng, Bùi Lê Đình N vì nghĩ những người trong bàn nhậu bên cạnh bàn của N nhìn đểu mình nên N đã có lời nói xúc phạm và thách đố, sau đó N dùng 01 (một) cây kiếm (là vũ khí thô sơ) đuổi chém Lê Thành P, Nguyễn Thanh N2 và Ngô Hồng A. Nhật còn được sự hỗ trợ, giúp sức của Phan Thị Ly N1 cầm vỏ chai rượu, Trần Văn T cầm ghế (là hung khí) ném vào Lê Thành P, Nguyễn Thanh N2 và Ngô Hồng A nhưng không trúng đã gây ra sự hoảng loạn, khiến nhiều người ở các bàn nhậu khác bỏ chạy.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Văn T và đồng bọn về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[2] Xét đơn kháng cáo của bị cáo, HĐXX thấy rằng: Trần Văn T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình đã dùng ghế (là hung khí) ném vào người khác có thể gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ của người khác. Hành vi của bị cáo tuy không gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ của người khác nhưng đã gây ảnh hưởng đến trật tự chung ở nơi công cộng, làm ảnh hưởng đến sự bình yên của người dân sống xung quanh và ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy, đối với bị cáo cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định của pháp luật, xem xét đầy đủ về nhân thân, điều kiện, hoàn cảnh gia đình của bị cáo, đã xử phạt bị cáo với mức hình phạt 12 tháng tù là phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[3] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Trần Văn T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T;

Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 74/2025/HS-ST ngày 29 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng về hình phạt đối với bị cáo.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

1. Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

+ Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 25/8/2025).

2. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Văn T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Đà Nẵng;
  • - Phòng HSNV - CATP Đà Nẵng;
  • - Phòng THADS khu vực 5;
  • - VKSND khu vực 5;
  • - Toà án nhân dân khu vực 5;
  • - CQCSĐT CATP Đà Nẵng;
  • - Vụ GĐKT I - TAND tối cao;
  • - Phân trại tạm giam Tam Kỳ - Trại giam số 2, CATP Đà Nẵng;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Hoài Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2026/HS-PT ngày 15/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 11/2026/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger