Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HS-ST

Ngày 13 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Anh Cường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn An

Bà Đỗ Thị Kim Thúy

- Thư ký phiên toà: Bà Triệu Mỹ Linh – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà:

Bà Kiều Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 107/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2024/QĐXXST-HS ngày 11/12/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị L, sinh ngày 28 tháng 8 năm 1986 tại huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Kim S và bà Tạ Thị S1; có chồng là Nguyễn Ngọc T và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang tại ngoại tại địa phương (Có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Chi cục thuế khu vực V1; Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đình V – Chi cục trưởng Chi cục thuế khu vực V1.

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Văn T1 – Phó chi cục trưởng Chi cục thuế khu vực V1 (Vắng mặt).

+ Anh Nguyễn Thế L1, sinh năm 1977 - Giám đốc Công ty TNHH T4; địa chỉ: Xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty TNHH MTV T5 (viết tắt là Công ty T5) được thành lập theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH MTV do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh V cấp đăng ký lần đầu ngày 26/4/2011, mã số doanh nghiệp: 2500434231. Ngành nghề kinh doanh của công ty: Mua bán phụ tùng, máy xúc, máy ủi, động cơ.... Người đại diện theo pháp luật là Nguyễn Thị L - sinh năm 1986, trú tại: thôn N, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, chức danh Giám đốc; công ty đăng ký kê khai và nộp thuế tại Chi cục thuế khu vực V1 theo phương pháp khấu trừ thuế. Công ty T5 mở 01 tài khoản số: 2803201003020 tại Ngân hàng N - CN Y để giao dịch.

Đầu năm 2019, Nguyễn Thị L - Giám đốc Công ty T5 mua một số hàng hóa, gồm: Tời ngang, bánh xe, máng dẫn điện, động cơ các loại của một số cá nhân trong và ngoài tỉnh Vĩnh Phúc (L không nhớ mua của những ai; không nhớ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của họ). Do số cá nhân này không thành lập doanh nghiệp nên không có hóa đơn GTGT xuất cho Công ty T5, trong khi đó những đơn vị mua hàng của Công ty T5 yêu cầu phải xuất hóa đơn GTGT theo đúng quy định. Vì vậy, L đã liên hệ với Nguyễn Thế L1 - Sinh năm 1977, Giám đốc Công ty TNHH T4 (viết tắt là Công ty T4), địa chỉ: xã T, huyện Y đặt vấn đề mua hóa đơn GTGT ghi khống hàng hóa nêu trên. Sau khi thỏa thuận, L1 đồng ý bán hóa đơn GTGT của Công ty T4 cho L với giá 4,5% giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn. Mỗi lần mua hóa đơn L đều cung cấp thông tin về Công ty T5 (tên công ty, địa chỉ, mã số thuế, mặt hàng, số lượng và tổng tiền thanh toán) cho L1. Căn cứ vào thông tin L cung cấp, L1 là người lập hợp đồng kinh tế, hóa đơn GTGT rồi chuyển lại cho L. Trong tháng 4/2019 và tháng 5/2019, L đã liên hệ với L1 để mua 04 hóa đơn GTGT ghi khống hàng hóa (tời ngang, bánh xe, máng, động cơ các loại) với tổng số tiền thanh toán là: 2.286.900.000 đồng, trong đó: Tiền hàng là 2.079.000.000 đồng, tiền thuế GTGT là 207.900.000 đồng. Tiền mua hóa đơn là 93.555.000 đồng (4,5% x 2.079.000.000 đồng), toàn bộ số tiền này Liên thanh T2 cho L1 bằng tiền mặt.

Ngày 05/7/2019, L mang số tiền 2.286.900.000 đồng đến Ngân hàng N - CN Y để hợp thức việc mua bán hóa đơn thông qua chuyển khoản ngân hàng. Do L mang theo số tiền lớn đi một mình không yên tâm nên L đã rủ chị Nguyễn Thị Ánh H - Sinh năm 1991, trú tại: thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (chị H là người cùng xã, được L thuê dọn dẹp vệ sinh cho gia đình L) đi cùng đến ngân hàng. Khi đến nơi, L quên không mang theo căn cước công dân nên đã nhờ chị H nộp số tiền 2.286.900.000 đồng vào tài khoản số 2803201003020 của Công ty T5; L không nói cho H biết việc mua trái phép hóa đơn mà chỉ nói với H là nộp tiền vào tài khoản để thanh toán tiền mua hàng. Sau khi tiền vào tài

2

khoản của Công ty T5, L làm thủ tục chuyển toàn bộ số tiền 2.286.900.000 đồng vào tài khoản số 2803201005836 của Công ty T4 mở tại Ngân hàng N - CN Y, sau đó L1 rút số tiền này ra trả lại cho L bằng tiền mặt. Sau khi mua 04 hóa đơn GTGT nêu trên, L đã sử dụng để hợp thức hàng hóa dịch vụ đầu vào, kê khai quyết toán thuế quý 2/2019 với số tiền thuế GTGT là 207.900.000 đồng.

Từ năm 2019 đến tháng 6/2024, L thuê Tô Nam T3 - Sinh năm 1980, trú tại: xã Đ, huyện Y, cán bộ công chức Chi cục thuế khu vực V1 lập tờ khai thuế, bảng kê hóa đơn, chứng từ hàng hóa, dịch vụ mua vào, bán ra của Công ty T5 báo cáo Chi cục thuế khu vực V1 theo quy định. Tuy nhiên, T3 đã không kê khai hóa đơn GTGT hàng hóa, dịch vụ mua vào, bán ra năm 2020, 2021 và quý 1/2022 do L cung cấp. Sau khi Cơ quan điều tra đến làm việc với Công ty T5 và Chi cục thuế khu vực V1 thì T3 mới nộp tờ khai thuế quý 1/2024 và tờ khai bổ sung (kê khai những hóa đơn chưa kê khai năm 2020, 2021 và quý 1/2022).

Ngày 13/5/2024, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh có Quyết định trưng cầu giám định số 1306 trưng cầu Giám định viên tư pháp thuộc Cục Thuế tỉnh V, giám định: Hành vi của Nguyễn Thị L - Giám đốc Công ty T5 mua 04 hóa đơn GTGT ghi khống hàng hóa của Công ty T4 hợp thức hàng hóa, nguyên liệu đầu vào và kê khai quyết toán thuế với Cơ quan thuế có phải là hành vi sử dụng hóa đơn không hợp pháp để trốn thuế không? Trốn những loại thuế gì?

Ngày 04/6/2024, Giám định viên tư pháp thuộc Cục thuế tỉnh V có Kết luận giám định, kết luận:

  • + Công ty T5 sử dụng 04 hóa đơn GTGT đầu vào do Công ty T4 cung cấp để kê khai đầu vào hàng hóa của các cá nhân kinh doanh không có hóa đơn GTGT là hành vi sử dụng không hợp pháp hóa đơn theo quy định tại khoản 9 và khoản 10, Điều 3 Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010; điểm đ, khoản 2, Điều 4 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn.

  • + Công ty T5 sử dụng không hợp pháp hóa đơn GTGT để hạch toán đầu vào mua của các cá nhân kinh doanh không có hóa đơn GTGT được xác định là hành vi trốn thuế theo quy định tại khoản 4, khoản 5 Điều 143 Luật quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019 của Quốc hội. Căn cứ tờ khai thuế bổ sung hồ sơ khai GTGT ngày 02/5/2024 của Công ty T5 (ngày đơn vị nộp tờ khai Quý I/2024 và tờ khai bổ sung điều chỉnh) sau khi loại trừ số thuế GTGT đầu vào của 04 số hóa đơn mua khống của Công ty T4 thì số thuế GTGT trốn được xác định là 35.969.561 đồng và giảm số thuế GTGT được khấu trừ chuyển kỳ sau số tiền 171.930.439 đồng.

Ngoài mua 04 hóa đơn GTGT của Công ty T4 ghi khống hàng hóa xuất cho Công ty T5 nêu trên, L còn mua 24 hóa đơn GTGT của Công ty T4 xuất cho Công ty TNHH C (viết tắt là Công ty C), địa chỉ: xã V, thành phố T, tỉnh Thái

3

Bình, cụ thể: Vào khoảng đầu tháng 6/2019, ông Nguyễn Trung H1 - Sinh năm 1976, trú tại: xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình, Giám đốc Công ty C đến gặp L tại cửa hàng và cũng là nhà riêng của L ở xã T, huyện Y, hỏi mua các mặt hàng gồm: Động cơ, hộp giảm tốc, hộp số, bộ tời,... Sau khi trao đổi, thống nhất về giá, ông H1 đồng ý mua hàng và yêu cầu L phải xuất hóa đơn GTGT theo đúng quy định. Do số hàng hóa trên, L mua của các cá nhân không thành lập công ty, không có hóa đơn GTGT đầu vào nên L đã liên hệ với L1 - Giám đốc Công ty T4 để hỏi mua hóa đơn ghi khống các mặt hàng: Động cơ, hộp giảm tốc, hộp số, bộ tời,... xuất cho Công ty C, L1 đồng ý bán hóa đơn cho L với giá 6% giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn. Mỗi lần bán hàng cho ông H1, L lại liên hệ với L1 để mua hóa đơn GTGT của Công ty T4 ghi nội dung đúng với số tiền và số lượng hàng hóa đã bán cho Công ty C. L cung cấp cho ông Huỳnh S2 tài khoản của Công ty T4 để Công ty C thanh toán tiền mua hàng. Sau khi tiền vào tài khoản của Công ty T4, L1 giữ lại số tiền bán hóa đơn, số tiền còn lại L1 trả lại cho L bằng tiền mặt và chuyển khoản. Từ tháng 6/2019 đến tháng 01/2024, L đã mua 24 hóa đơn GTGT của Công ty T4 ghi khống hàng hóa (động cơ, hộp giảm tốc, hộp số, bộ tời,...) xuất cho Công ty C với tổng tiền thanh toán ghi trên hóa đơn là 11.524.581.786 đồng, trong đó: Tiền hàng là 10.541.816.586 đồng, tiền thuế GTGT là 982.765.200 đồng. Công ty C đã chuyển khoản tổng số tiền thanh toán ghi trên hóa đơn (11.524.581.786 đồng) vào tài khoản của Công ty T4, sau đó L1 giữ lại tiền bán hóa đơn là 632.508.995 đồng (6% giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn) và trả lại cho L số tiền 10.892.072.790 đồng, trong đó: 8.126.493.000 đồng L1 trả lại cho Liên bằng chuyển khoản (từ tài khoản số 10296978888 của L1 mở tại Ngân hàng TMCP C1 - Chi nhánh V2 đến tài khoản số 100827268888 của L mở tại Ngân hàng TMCP C1 - CN Vĩnh Phúc); số tiền còn lại 2.765.579.790 đồng L1 trả lại cho L bằng tiền mặt.

Như vậy, từ tháng 4/2019 đến tháng 01/2024 Nguyễn Thị L đã liên hệ với Nguyễn Thế L1 mua tổng số 28 hóa đơn GTGT ghi khống các mặt hàng của Công ty T4 (04 hóa đơn GTGT xuất cho Công ty T5 và 24 hóa đơn xuất cho Công ty C) với tổng tiền thanh toán ghi trên hóa đơn là 13.811.481.786 đồng, trong đó tiền hàng là 12.620.816.586 đồng; tiền thuế GTGT: 1.190.665.200 đồng, tiền mua hóa đơn: 726.063.995 đồng.

Nguyễn Thị L đã mua và sử dụng 04 hóa đơn GTGT của Công ty T4 ghi khống hàng hóa, dịch vụ để kê khai quyết toán thuế. Tuy nhiên, tại Kết luận Giám định về thuế, kết luận số tiền thuế GTGT Công ty T5 trốn là 35.969.561 đồng (dưới 100.000.000 đồng) do vậy hành vi này của Nguyễn Thị L chưa đủ yếu tố cấu thành tội Trốn thuế.

Đối với Nguyễn Thế L1 - Giám đốc Công ty T4, ngoài bán trái phép 28 hóa đơn GTGT cho Nguyễn Thị L, L1 còn bán trái phép hóa đơn GTGT cho

4

nhiều công ty khác trong và ngoài tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 11/7/2024, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh V đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Thế L1 về tội “Mua bán trái phép hóa đơn”. Sau đó, chuyển vụ án đến Cơ quan ANĐT - Công an tỉnh V để điều tra theo thủ tục chung.

Đối với Tô Nam T3 là người Liên thuê báo cáo kê khai thuế hàng tháng, quá trình điều tra xác định T3 không biết việc L mua trái phép hóa đơn. Do vậy hành vi của T3 không cấu thành tội Mua bán trái phép hóa đơn. Tuy nhiên bản thân T3 là cán bộ công chức Chi cục thuế khu vực V và là Đảng viên. T3 hiểu biết pháp luật về lĩnh vực thuế, hóa đơn, biết rõ những điều Đảng viên, cán bộ công chức không được làm. Nhưng với mục đích kiếm thêm thu nhập, T3 đã nhận kê khai, báo cáo thuế cho Công ty T5 từ năm 2019 đến tháng 6/2024 để hưởng tiền công hàng tháng. Quá trình kê khai, báo cáo thuế cho Công ty T5, T3 đã không kê khai hóa đơn GTGT hàng hóa, dịch vụ mua vào, bán ra năm 2020, 2021 và quý 1/2022 do L cung cấp. Sau khi Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh đến làm việc với Công ty T5 và Chi cục thuế khu vực V1 thì T3 mới nộp tờ khai thuế quý 1/2024 và tờ khai bổ sung (kê khai những hóa đơn chưa kê khai năm 2020, 2021 và quý 1/2022). Do vậy, hành vi của T3 đã vi phạm những điều Đảng viên, cán bộ công chức không được làm. Cơ quan điều tra đã có văn bản kiến nghị Cục Thuế tỉnh V xử lý T3 theo quy định.

Đối với Nguyễn Thị Ánh H là người Liên nhờ nộp hộ số tiền 2.286.900.000 đồng vào tài khoản của Công ty T5 để hợp thức việc mua bán hàng hóa qua tài khoản Ngân hàng, quá trình điều tra xác định H không biết việc L mua trái phép hóa đơn nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với Công ty C, địa chỉ: Xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình do ông Nguyễn Trung H1 - Sinh năm 1976 làm Giám đốc. Từ tháng 6/2019 đến tháng 01/2024, ông H1 - Giám đốc Công ty C mua động cơ, hộp giảm tốc, hộp số, bộ tời... của L và yêu cầu phải xuất hóa đơn GTGT cho Công ty C theo đúng quy định. Quá trình mua hàng hóa, ông H1 được L cung cấp hợp đồng và số tài khoản của Công ty T4 để làm thủ tục thanh toán thông qua chuyển khoản ngân hàng. Ông H1 không biết việc L mua hóa đơn của Công ty T4 xuất cho Công ty C; lỗi vi phạm sử dụng bất hợp pháp hóa đơn thuộc về người bán hàng nên Công ty C không phạm tội Trốn thuế và không phạm tội Mua bán trái phép hóa đơn mà vi phạm kê khai sai theo điểm c, Điều 142, Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 của Quốc Hội. Cơ quan điều tra đã có văn bản kiến nghị Cục thuế tỉnh T xử lý đối với Công ty C về hành vi kê khai sai 24 hóa đơn GTGT của Công ty T4.

Tại bản Cáo trạng số 118/CT-VKS-P1 ngày 08/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố Nguyễn Thị L về tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo khoản 1 Điều 203 Bộ luật Hình sự năm 2015.

5

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo khoản 1 điều 203 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 203; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt: Nguyễn Thị Liên từ 150.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng.

Áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, đề nghị: Tịch thu sung công số tiền bị cáo nộp để khắc phục hậu quả.

Bị cáo nói lời sau cùng, do nhận thức pháp luật hạn chế nên đã vi phạm pháp luật, sau khi phạm tội rất ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra tỉnh Vĩnh Phúc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và xét hỏi công khai tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị L đã khai nhận rõ toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tình tiết khách quan đã được cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo. Như vậy, Hội đồng xét xử một lần nữa có đủ cơ sở kết luận về hành vi phạm tội của các bị cáo như sau: Do cần hóa đơn GTGT để hợp thức đầu vào đối với các mặt hàng mua trôi nổi không có hóa đơn, mục đích để kê khai khấu trừ thuế và xuất hóa đơn cho các đơn vị mua hàng yêu cầu phải có hóa đơn bán hàng nên trong khoảng thời gian từ tháng 4/2019 đến tháng 1/2024, Nguyễn Thị L – Giám đốc Công ty TNHH MTV T5 (viết tắt là công ty T5) đã mua của Nguyễn Thế L1 – Giám đốc Công ty TNHH T4 28 hóa đơn, với tổng giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn là 12.620.816.586 đồng, tiền thuế GTGT là 1.190.665.200 đồng, trong đó có 4 hóa đơn Nguyễn Thị L sử dụng để kê khai khấu trừ thuế cho công ty T5 (theo kết

6

luận giám định số tiền thuế trốn là 35.969.561 đồng) và 24 hóa đơn Nguyễn Thị L sử dụng để xuất khi bán hàng cho Công ty TNHH C.

[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội: “Mua bán trái phép hóa đơn” theo khoản 1 điều 203 Bộ luật hình sự năm 2015. Tại khoản 1, Điều 203 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

“1. Người nào...mua bán trái phép hóa đơn...đã ghi nội dung từ 10 số đến dưới 30 số... thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 03 năm”

[4] Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, cụ thể xâm phạm đến chế độ quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

  • - Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình chuẩn bị xét xử bị cáo L đã tự nguyện giao nộp số tiền 35.969.561 đồng (là tiền thu lời) tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

  • - Về tình tiết tăng nặng: Không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Đối với người có liên quan trong vụ án:

  • - Đối với Nguyễn Thế L1 - Giám đốc Công ty T4, ngoài bán trái phép 28 hóa đơn GTGT cho Nguyễn Thị L, L1 còn bán trái phép hóa đơn GTGT cho nhiều công ty khác trong và ngoài tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 11/7/2024, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh V đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Thế L1 về tội “Mua bán trái phép hóa đơn”. Sau đó, chuyển vụ án đến Cơ quan ANĐT - Công an tỉnh V để điều tra theo thủ tục chung nên không xem xét xử lý trong vụ án này là phù hợp.

[7] Về hình phạt:

  • - Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, bị cáo đã nộp lại toàn bộ số tiền trốn thuế trong vụ án. Vì vậy cần áp dụng hình phạt tiền như đề nghị của Viện kiểm sát, vừa thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật vừa thể

7

hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa, nhằm giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.

  • - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng của vụ án:

  • - Tại biên lai thu tiền số 0004023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc ngày 18/12/2024, bị cáo L đã tự nguyện nộp số tiền 36.169.561đồng để tự nguyện khắc phục hậu quả là số tiền trốn thuế. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 35.969.561 đồng là tiền trốn thuế, còn lại 200.000 đồng cần trả lại bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Thị L phải nộp 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Nguyễn Thị L phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn”.

Áp dụng khoản 1 Điều 203; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt Nguyễn Thị L 200.000.000 đồng.

Áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 35.969.561 đồng bị cáo tự nguyện nộp để khắc phục hậu quả. Trả lại bị cáo số tiền 200.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Thị L phải nộp 200.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn Thị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS + HS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(Đã ký)

Đỗ Anh Cường

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 13/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự (mua bán trái phép hóa đơn)

  • Số bản án: 11/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép hóa đơn)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị L mua bán trái phép hóa đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger