|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2025/HS-ST
Ngày 24-01-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Nguyễn Hữu Bình.
- - Hoàng Văn Đoan.
Thư ký phiên toà: Ông Nghiêm Quang Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Tuân - Kiểm sát viên.
- Người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Bà Trần Thị T - Kế toán Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm (trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng) và điểm cầu thành phần (Nhà tạm giữ Công an huyện T, thành phố Hải Phòng) xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 08/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:
Mạc Văn U, sinh ngày 09 tháng 8 năm 1980 tại Hải Dương; nơi cư trú: Đ, thôn V, xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mạc Văn Q, sinh năm 1950 và bà Đinh Thị L, sinh năm 1952; có vợ là Phạm Thị L1, sinh năm 1985 và 02 con, lớn sinh năm 2004 và nhỏ sinh năm 2007; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 23 tháng 9 năm 2024 đến ngày 02 tháng 10 năm 2024 chuyển tạm giam; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị L1, sinh năm 1985 và anh Mạc Hoàng A, sinh ngày 26-7-2007; cùng nơi cư trú: Đ, thôn V, xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương; đều vắng mặt.
- Người chứng kiến: Anh Đinh Tuấn A1, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy nên khoảng 10 giờ ngày 23-9-2024, bị cáo Mạc Văn U điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, biển kiểm soát (BKS) 34B4-507.08 đến khu vực Nông trường Q, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng với mục đích mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, bị cáo gặp một người đàn ông không quen biết hỏi mua 200.000 đồng ma tuý loại Heroine, người này đồng ý bán cho 02 gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng. Mua được ma túy, bị cáo cất giấu vào 01 hộp nhựa màu đen treo tại móc chìa khóa xe mô tô, khi bị cáo điều khiển xe đi được khoảng 200m thì bị tổ công tác Công an huyện T tiến hành kiểm tra phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tại móc chìa khóa xe mô tô 01 hộp nhựa hình chữ nhật màu đen kích thước 4,6cm x 3,4cm x 01cm bên trong có 02 gói giấy cùng kích thước 2,1cm x 1,2cm đều chứa chất bột màu trắng, 01 xe mô tô BKS 34B4-507.08.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không thu giữ được tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án.
Kết luận giám định số 1099/KL-KTHS ngày 27-9-2024 của phòng K Công an thành phố H, kết luận: “Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,24 gam, loại Heroine”. Kết quả xét nghiệm của Cơ sở cai nghiện ma túy số 02 Hải Phòng kết luận: “Bị cáo dương tính với ma túy, loại Heroine”.
Kết luận giám định số 3183/KL-KTHS ngày 11-10-2024 của phòng K Công an thành phố H, kết luận: “Xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu YAMAHA, biển kiểm soát 34B4-507.08, có số khung và số máy là số nguyên thủy, không phát hiện thấy có sự tẩy xóa, sửa chữa các ký tự”. Tại phiếu trả lời xác minh xe ngày 18-12-2024 của Công an huyện T thể hiện chủ xe mô tô biển kiểm soát 34B4-507.08 là Mạc Văn U.
Quá trình điều tra bà Phạm Thị L1 và anh Mạc Hoàng A thống nhất trình bày: Bà L1 là vợ, Hoàng A là con của bị cáo. Năm 2020, bà L1 và bị cáo mua xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, BKS 34B4-507.08, đăng ký tên Mạc Văn U; sau đó vợ chồng thống nhất cho con trai là Mạc Hoàng A. Ngày 23-9-2024, Hoàng A không biết việc bị cáo lấy xe mô tô trên để đi mua ma tuý.
Bản cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 06-01-2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Mạc Văn U về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên và trình bày: Bị cáo sử dụng ma tuý từ giữa năm 2024; số ma túy Cơ quan Công an thu giữ khi bắt quả tang là của bị cáo mua để sử dụng một mình, ngoài ra không có mục đích nào khác; số tiền dùng để mua ma tuý là do bị cáo lao động mà có. Bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố đúng như hành vi đã thực hiện; khối lượng, loại ma túy đúng như Kết luận giám định của Phòng K Công an thành phố H; vật chứng của vụ án bị Công an huyện T thu giữ đúng như cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận việc bị điều tra, truy tố, xét xử là không oan sai, không bị ép buộc khai báo không đúng sự thật; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và trả lại xe mô tô BKS 34B4-507.08 cho con trai bị cáo là Mạc Hoàng A vì chiếc xe này được bị cáo và bà Phạm Thị L1 mua năm 2020, nhưng đã cho con trai; ngày 23-9-2024, Hoàng A để xe ở nhà, không biết việc bị cáo lấy xe mô tô để đi mua ma túy.
Người chứng kiến và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, Hội đồng xét xử công bố lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa.
Kiểm sát viên khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Căn cứ tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Mạc Văn U mức án từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày tạm giữ 23-9-2024. Miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại: 01 xe mô nhãn hiệu YAMAHA Exciter, BKS 34B4-507.08 đã qua sử dụng (không có chìa khoá) cho bà Phạm Thị L1, anh Mạc Hoàng A. Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì số 1099MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H chứa mẫu vật còn lại sau giám định, còn nguyên niêm phong.
- - Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
- - Về kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, Kiểm sát viên thu thập đã đầy đủ và theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.
[2] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Điều tra viên Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về những người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Tuy nhiên, những người vắng mặt đã có lời khai tại Cơ quan điều tra nên căn cứ các điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người này.
- Về tội danh và hình phạt:
[4] Lời khai của bị cáo Mạc Văn U tại phiên toà phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến; biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng; biên bản khám xét, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 11 giờ 15 phút ngày 23-9-2024, tại trục đường N, xã Đ, huyện T; Công an huyện T, thành phố Hải Phòng bắt quả tang bị cáo có hành vi cất giấu trái phép tại hộp nhựa màu đen gắn vào móc treo chìa khoá được cắm vào ổ khoá xe mô tô BKS 34B4-507.08 do bị cáo điều khiển chất ma tuý có khối lượng theo Kết luận giám định của Phòng K Công an thành phố H là 0,24 gam Heroine.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật Hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích sử dụng.
Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[5] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ.
[6] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự; phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[7] Xét các căn cứ quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử cho rằng cần áp dụng Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời hạn nhất định mới đảm bảo giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung; đồng thời xử phạt bị cáo ở mức cao nhất theo mức án mà Kiểm sát viên đã đề nghị đối với bị cáo là thỏa đáng.
[8] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy, tài liệu xác minh thể hiện bị cáo là người nghiện ma tuý, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, BKS 34B4-507.08: Đây là tài sản hợp pháp của bị cáo và bà Phạm Thị L1 đã cho con trai là Mạc Hoàng A, việc bị cáo dùng xe mô tô BKS 34B4-507.08 để đi mua ma tuý thì bà L1 và Hoàng A không biết nên trả lại chiếc xe này cho anh Hoàng A và bà L1 là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 phong bì số 1099MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H chứa mẫu vật còn lại sau giám định, còn nguyên niêm phong (bên trong có 0,17 gam tinh thể cùng toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật): Là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[10] Về vấn đề khác: Trong vụ án này, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người đàn ông bán ma túy cho bị cáo nên tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là đúng quy định pháp luật.
[11] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mạc Văn U phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Mạc Văn U 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày tạm giữ 23 tháng 9 năm 2024.
Miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với Mạc Văn U.
- Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại: 01 (Một) xe mô nhãn hiệu YAMAHA Exciter màu xanh, biển kiểm soát 34B4-507.08 đã qua sử dụng (không có chìa khoá) cho anh Mạc Hoàng A (bà Phạm Thị L1).
Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì số 1099MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H chứa mẫu vật còn lại sau giám định, còn nguyên niêm phong (bên trong có 0,17 gam tinh thể cùng toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật).
(Vật chứng nêu trên có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng).
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc Mạc Văn U phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Mạc Văn U có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (anh Mạc Hoàng A, bà Phạm Thị L1) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 24/01/2025 của Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 11/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
