|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2025/KDTM-ST
Ngày: 30/6/2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Nguyễn Thị Thắm
Bà Nguyễn Kim Lý
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 04/2025/TLST-DS ngày 08 tháng 01 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2025/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/QĐST-DS ngày 11 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (VPB); địa chỉ trụ sở: Số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Cảnh H – Chức vụ: Chuyên viên chính xử lý nợ, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 13791/2024/UQN-PGD ngày 01/11/2024) – có mặt.
- Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn S; địa chỉ trụ sở: E Đường Đ, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Đoàn Thùy L, sinh năm: 1984; địa chỉ liên hệ: E, đường D, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo pháp luật – vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong Đơn khởi kiện đề ngày 26/11/2024 và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp trình bày:
Công ty TNHH S (sau đây viết tắt là Công ty S) vay vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần V (sau đây viết tắt là VPB) thông qua Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô số 221223-13860866-AUTO-1/HĐ ngày 22/12/2023, khế ước nhận nợ số 221223-13860866-AUTO-1 ngày 22/12/2023.
- - Số tiền giải ngân và nhận nợ là: 520.000.000 đồng (năm trăm hai mươi triệu đồng);
- - Thời hạn vay: 72 tháng, từ ngày 22/12/2023 đến ngày 22/12/2029;
- - Mục đích vay: Mua ô tô mới phục vụ mục đích đi lại theo Hợp đồng mua bán xe ô tô số 054-1123/BDF-HĐMB;
- - Lãi suất:
- + Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân: 9,3%/năm;
- + Lãi suất cho vay trong hạn sẽ được cố định trong vòng 12 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên, sau đó được điều chỉnh theo thỏa thuận tại hợp đồng;
- - Các kỳ trả nợ lãi: Định kỳ 1 tháng/lần vào ngày 22;
- - Trả nợ gốc: Định kỳ 1 tháng/lần vào ngày 22, mỗi kỳ là 7.222.222 đồng, kỳ cuối cùng phải trả 7.222.238 đồng.
Để đảm bảo cho Hợp đồng cho vay nêu trên, Công ty S đã thế chấp tài sản là xe ô tô nhãn hiệu Ford, số loại: Ranger, biển kiểm soát: 61C-559.06, số khung: RL2UMFC50PMR60981, số máy P02SRPM60981 do Công an thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương cấp ngày 20/12/2023. Việc thế chấp đã đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Đà Nẵng số 22152873, ngày 22/12/2023. Thực hiện hợp đồng thế chấp, Công ty A Á giao cho VPB giữ bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 61 005317, cấp ngày 20/12/2023; Công ty S quản lý, sử dụng xe ô tô biển số 61C-559.06.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, Công ty S đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ và toàn bộ khoản vay đã chuyển thành nợ quá hạn từ ngày 23/05/2024. VPB đã nhiều lần liên hệ và làm việc với Công ty S để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng Công ty cố tình không hợp tác, trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Tạm tính đến ngày 20/10/2024, Công ty S còn nợ các khoản sau tại VPB:
- - Nợ gốc quá hạn: 491.111.112 đồng;
- - Nợ lãi: 32.221.215 đồng;
- - Nợ lãi chậm trả: 160.462 đồng;
- Tổng cộng: 523.492.789 đồng.
Tính đến thời điểm xét xử (ngày 30/6/2025), Công ty S còn nợ VPB các khoản sau:
- - Nợ gốc quá hạn: 491.111.112 đồng;
- - Nợ lãi: 79.834.101 đồng;
- - Nợ lãi chậm trả: 443.166 đồng;
- Tổng cộng: 571.388.379 đồng.
Ngân hàng TMCP V khởi kiện Công ty TNHH S, yêu cầu Tòa án tuyên:
- Buộc Công ty S thanh toán toàn bộ số nợ gốc và lãi cho VPB tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm là 571.388.379 đồng, trong đó: Nợ gốc: 491.111.112 đồng; nợ lãi: 79.834.101 đồng; nợ lãi chậm trả: 443.166 đồng.
- Kể từ ngày 01/07/2025, Công ty S vẫn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn, lãi phạt theo Hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên cho tới khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho VPB.
- Trường hợp Công ty S không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì VPB có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu Ford, số loại: Ranger, biển kiểm soát: 61C-559.06.
2. Đối với bị đơn Công ty TNHH S: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo cho bị đơn biết về việc thụ lý, giải quyết vụ án và triệu tập người đại diện hợp pháp của Công ty S đến Tòa án tham gia tố tụng. Tuy nhiên, người đại diện hợp pháp của bị đơn không đến Tòa án tham gia tố tụng, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không có đơn yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn.
3. Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát có ý kiến:
- - Về tố tụng: Việc thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ là đúng theo quy định, nguyên đơn và những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện nghĩa vụ phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.
- - Về nội dung:
- Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, có cơ sở xác định Công ty S chưa thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền nợ gốc 491.111.112 đồng và tiền lãi phát sinh, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán số tiền này.
- Các yêu cầu khác của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về sự vắng mặt của các đương sự:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng người đại diện hợp pháp của bị đơn đều vắng mặt; việc vắng mặt của người đại diện hợp pháp của bị đơn không vì lý do bất khả kháng. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị đơn.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (VPB) khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn Công ty TNHH S thanh toán số tiền nợ gốc là 491.111.112 đồng và tiền lãi phát sinh (tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm) theo mức lãi suất quy định tại Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô số 221223-13860866-AUTO-1/HĐ ngày 22/12/2023; đồng thời yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm.
Bị đơn Công ty TNHH S không có yêu cầu phản tố, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ về vụ việc cho Tòa án.
[3] Xét tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thì thấy:
Giữa VPB và Công ty S có ký kết Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô số 221223-13860866-AUTO-1/HĐ ngày 22/12/2023.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, Công ty S vi phạm nghĩa vụ trả nợ với VPB.
Đến thời điểm khởi kiện (ngày 20/10/2024), Công ty S còn nợ số tiền như sau:
- - Nợ gốc quá hạn: 491.111.112 đồng;
- - Nợ lãi: 32.221.215 đồng;
- - Nợ lãi chậm trả: 160.462 đồng;
- Tổng cộng: 523.492.789 đồng.
Căn cứ thỏa thuận giữa hai bên về việc chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn và chuyển nợ quá hạn, VPB khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty S thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc nêu trên là có cơ sở chấp nhận.
Tiền lãi phát sinh VPB yêu cầu Công ty S có nghĩa vụ thanh toán bao gồm lãi quá hạn và lãi chậm trả. Xét thấy, thỏa thuận tại Điều 2 của Hợp đồng số 221223-13860866-AUTO-1/HĐ ngày 22/12/2023 đã ký kết giữa hai bên có thỏa thuận về lãi suất, lãi quá hạn và lãi chậm trả. Do Công ty S vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên VBP khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty phải trả tiền lãi phát sinh là phù hợp với các điều khoản thỏa thuận giữa hai bên và quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đối chiếu các điều khoản của hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa hai bên, bảng tính lãi và sao kê giao dịch đối với khoản vay, có cơ sở xác định đến thời điểm xét xử sơ thẩm (ngày 30/6/2025), Công ty S còn nợ VPB khoản nợ gốc và lãi phát sinh như sau:
- - Nợ gốc quá hạn: 491.111.112 đồng;
- - Nợ lãi: 79.834.101 đồng;
- - Nợ lãi chậm trả: 443.166 đồng;
- Tổng cộng: 571.388.379 đồng.
Xét, cần buộc Công ty S thanh toán các khoản tiền trên cho VPB.
[4] Về việc xử lý tài sản thế chấp:
VPB yêu cầu Tòa án xem xét: Trong trường hợp Công ty S không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì VPB được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay của Công ty S tại VPB là: 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Ford, số loại: Ranger, biển kiểm soát: 61C-559.06, số khung: RL2UMFC50PMR60981, số máy P02SRPM60981; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 61 005317 do C (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương cấp ngày 20/12/2023 theo Hợp đồng số 221223-13860866-AUTO-1/HĐ ngày 22/12/2023, đã đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Đà Nẵng số 22152873, ngày 22/12/2023. Thực hiện hợp đồng thế chấp, Công ty A Á giao cho VPB giữ bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe; Công ty S quản lý, sử dụng xe ô tô biển số 61C-559.06.
Người đại diện hợp pháp của Công ty S không đến Tòa án tham gia tố tụng. Hiện không rõ tài sản thế chấp là xe ô tô biển số 61C-559.06 đang ở đâu nên VPB yêu cầu Tòa án không tiến hành xem xét, thẩm định và định giá đối với tài sản thế chấp.
Xét Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô số 221223-13860866-AUTO-1/HĐ ngày 22/12/2023 là giao dịch dân sự có bảo đảm, đã tuân thủ đúng các quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm nên là cơ sở pháp lý làm pháp sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.
Do đó, yêu cầu của VPB về việc xử lý tài sản thế chấp là xe ô tô biển số 61C-559.06 để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm cho khoản nợ của Công ty S tại VPB là có cơ sở chấp nhận.
[5] Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[6] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 292, Điều 293, Điều 299, Điều 317, Điều 320, Điều 321, Điều 322 và Điều 323 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ vào Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273 và Điều 483 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 6, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V đối với bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn S về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn S có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền nợ gốc 491.111.112 đồng và tiền lãi phát sinh đến ngày 30/6/2025 là 80.277.267 đồng, tổng cộng: 571.388.379 đồng (năm trăm bảy mươi mốt triệu, ba trăm tám mươi tám nghìn, ba trăm bảy mươi chín đồng) theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô số 221223-13860866-AUTO-1/HĐ ngày 22/12/2023 ký giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần V – Chi nhánh B với Công ty Trách nhiệm hữu hạn S.
Kể từ ngày 01/7/2025 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ, Công ty Trách nhiệm hữu hạn S còn phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V tiền lãi phát sinh trên dư nợ theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô số 221223-13860866-AUTO-1/HĐ ngày 22/12/2023.
Trường hợp Công ty Trách nhiệm hữu hạn S không thanh toán toàn bộ các khoản nợ trên cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là: 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Ford, số loại: Ranger, biển kiểm soát: 61C-559.06, số khung: RL2UMFC50PMR60981, số máy P02SRPM60981; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 61 005317 do C (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương cấp ngày 20/12/2023 (theo Hợp đồng số 221223-13860866-AUTO-1/HĐ ngày 22/12/2023, đã đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Đà Nẵng số 22152873, ngày 22/12/2023).
Trong thường hợp toàn bộ tài sản thế chấp được xử lý nhưng không đủ để thanh toán các khoản nợ thì Công ty Trách nhiệm hữu hạn S phải có trách nhiệm trả hết số nợ còn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.
2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Công ty Trách nhiệm hữu hạn S phải chịu số tiền 26.855.535 đồng (hai mươi sáu triệu, tám trăm năm mươi lăm nghìn, năm trăm ba mươi lăm đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V 12.469.856 đồng (mười hai triệu, bốn trăm sáu mươi chín nghìn, tám trăm năm mươi sau đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0009772 ngày 18/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
3. Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
4. Về quyền yêu cầu thi hành án dân sự:
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 2 của Luật thi hành án dân sự (hợp nhất số: 32/VBHN-VPQH ngày 07/12/2020) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự (hợp nhất số Số: 32/VBHN-VPQH ngày 07/12/2020); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự (hợp nhất số: 32/VBHN-VPQH ngày 07/12/2020)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Xuân |
8
Bản án số 11/2025/KDTM-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 11/2025/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
